Phân tích và Dự báo

Minh bạch hóa hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư nước ngoài: thực trạng và những giải pháp

Cập nhật lúc: 27/09/2005 12:00:00 AM

    Trong Báo cáo khảo sát gần đây do Ban Thư ký Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thực hiện, khi được hỏi Chính phủ cần làm gì để cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp tham gia điều tra đã sắp xếp các biện pháp sau theo thứ tự quan trọng: (i) nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của các dịch vụ hành chính; (ii) thực thi pháp luật công bằng và nghiêm minh; (iii) tiếp tục bãi bỏ các giấy phép không cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường; (iv) cải cách hệ thống thuế; (v) giảm chi phí các dịch vụ công, cải thiện cơ sở hạ tầng; và (vi) cải cách khu vực hành chính. Những khuyến nghị nói trên cho thấy, tính minh bạch, ổn định, công khai và hiệu quả của hệ thống luật pháp, chính sách là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp hiện nay.

1. Thực trạng:

a. Thành tựu

    Tăng cường tính minh bạch, công khai của hệ thống pháp luật, chính sách và thủ tục đầu tư nước ngoài (ĐTNN) luôn là một trong những giải pháp quan trọng nhằm cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao sức hấp dẫn và cạnh tranh thu hút ĐTNN của Việt Nam. Giải pháp này đã và đang được triển khai rộng rãi và đạt được những thành tựu nhất định.

(1) Minh bạch hóa các cơ hội đầu tư: Trong thời gian qua, các quy định của pháp luật về vấn đề này đã liên tục được hoàn thiện theo hướng công bố công khai các Danh mục lĩnh vực khuyến khích ĐTNN, cấm ĐTNN và ĐTNN có điều kiện. Đặc biệt, một số lĩnh vực ĐTNN có điều kiện và cấm ĐTNN đã được thiết kế trong một Danh mục loại trừ (negative list). Theo đó, ngoài các lĩnh vực/dự án quy định tại các Danh mục này, nhà đầu tư được chủ động lựa chọn lĩnh vực, hình thức, đối tác đầu tư, thị trường tiêu thụ sản phẩm... Đây là cách tiếp cận mới trong hoạt động lập pháp, góp phần nâng cao tính minh bạch của hệ thống luật pháp chính sách về ĐTNN.

    Chính phủ đã công bố Quy hoạch phát triển nhiều ngành kinh tế, kỹ thuật cũng như các Danh mục dự án gọi vốn ĐTNN trong từng thời kỳ. Việc phổ biến công khai các quy hoạch và danh mục này không chỉ tạo cơ sở để các cơ quan nhà nước tiến hành các hoạt động xúc tiến đầu tư một cách có định hướng mà còn tạo điều kiện nâng cao tính minh bạch về cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Ngoài ra, việc tổ chức các chương trình vận động đầu tư và phát hành rộng rãi các ấn phẩm, tài liệu xúc tiến đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau cũng góp phần vào việc nâng cao hiểu biết của nhà ĐTNN về môi trường đầu tư của Việt Nam nói chung và hệ thống pháp luật, chính sách về ĐTNN nói riêng.

(2) Minh bạch hóa quy trình, thủ tục cấp Giấy phép đầu tư: Đơn giản hóa thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ĐTNN không chỉ là yêu cầu của tất cả các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực mà còn là yêu cầu cấp bách đối với việc cải thiện môi trường ĐTNN tại Việt Nam. Trong những năm qua, thủ tục cấp phép ĐTNN đã liên tục được cải tiến mà quan trọng nhất là việc bổ sung vào Luật Đầu tư nước ngoài quy định về chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư với thủ tục đơn giản trong vòng 15 ngày. Theo đó, diện dự án và các điều kiện áp dụng chế độ đăng ký cấp Giấy phép đầu tư đã được quy định rõ ràng; các tiêu chí, quy trình, thời hạn xem xét, phê duyệt dự án thuộc diện thẩm định cấp Giấy phép đầu tư cũng được công bố công khai. Mặt khác, với việc sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư nước ngoài vào năm 1996, hệ thống các cơ quan cấp Giấy phép đầu tư đã được cải tiến theo hướng chuyển từ cơ chế một cơ quan duy nhất thực hiện chức năng này (là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) sang cơ chế phân cấp, uỷ quyền cho cả Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý Khu Công nghiệp cấp tỉnh. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ Đề án phân cấp quản lý ĐTNN nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc phân cấp cấp Giấy phép đầu tư và phân cấp quản lý cho các địa phương.

(3) Minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước về ĐTNN: Pháp luật hiện hành đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chính phủ cũng như Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước về ĐTNN. Việc đơn giản hóa, công khai hóa mọi quy trình, thủ tục cấp giấy phép đầu tư và triển khai hoạt động của dự án ĐTNN cũng được chú trọng thông qua cơ chế "một cửa, một đầu mối" được hình thành ở nhiều Bộ, ngành, địa phương.

(4)Minh bạch hóa trong hoạt động xây dựng pháp luật, chính sách về ĐTNN: Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật về ĐTNN đã được xây dựng và hoàn thiện với sự đóng góp tích cực của các nhà ĐTNN, hiệp hội doanh nghiệp có vốn ĐTNN, tổ chức quốc tế... Trên thực tế, cộng đồng các doanh nghiệp cũng như tổ chức quốc tế đã được phép tiếp cận và tham gia ý kiến ngay trong quá trình soạn thảo nhiều văn bản pháp luật quan trọng, kể cả dự thảo Luật ĐTNN (sửa đổi) trước đây cũng như dự thảo Luật Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống nhất hiện nay. Điều đó cho thấy nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp nói chung và tăng cường tính minh bạch, công khai trong quá trình soạn thảo các văn bản pháp luật về ĐTNN nói riêng.

(5) Thực hiện các cam kết quốc tế về minh bạch hóa môi trường đầu tư: Minh bạch hóa nói chung và minh bạch hóa môi trường đầu tư nói riêng là một trong những nghĩa vụ đặt ra trong hầu hết các điều ước/thỏa thuận quốc tế song phương và đa phương về thương mại và đầu tư mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Trong số các điều ước/thỏa thuận nói trên, Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA) thể hiện cam kết cao nhất của Việt Nam về minh bạch hóa môi trường đầu tư. Theo đó, Việt Nam đảm bảo rằng, các luật, quy định và thủ tục hành chính được áp dụng chung có liên quan hoặc ảnh hưởng đến đầu tư sẽ nhanh chóng được công bố hoặc có sẵn cho công chúng; thủ tục đăng ký cấp Giấy phép đầu tư chỉ yêu cầu cung cấp các thông tin cơ bản liên quan đến nhà đầu tư và dự án đầu tư dự kiến, đồng thời được chấp thuận nhanh chóng mà không kèm theo bất kỳ điều kiện nào về đối tác, địa điểm, hình thức đầu tư, tỷ lệ góp vốn...; các tiêu chí cấp hoặc từ chối cấp Giấy phép đầu tư phải được công bố công khai, dễ hiểu và không vượt quá mức cần thiết để phục vụ yêu cầu quản lý chính đáng; quyết định từ chối cấp Giấy phép đầu tư phải được làm bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối; việc thẩm định cấp Giấy phép đầu tư không nhằm mục đích ngăn cản, cấm đầu tư hoặc buộc nhà đầu tư phải lựa chọn đối tác, địa điểm đầu tư...

    Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang tham gia tích cực vào việc thực hiện các cam kết về minh bạch hóa môi trường đầu tư trong khuôn khổ ASEAN, APEC, ASEM. Tương tự như nghĩa vụ thỏa thuận trong BTA, các cam kết của Việt Nam về vấn đề này tập trung chủ yếu vào việc đảm bảo cơ hội tiếp cận của nhà đầu tư đối với các văn bản pháp luật, chính sách về đầu tư; minh bạch hóa các tiêu chí cấp và từ chối cấp Giấy phép đầu tư; đơn giản hóa quy trình, thủ tục đầu tư và xây dựng cơ chế quản lý có hiệu quả, minh bạch đối với hoạt động ĐTNN...

b. Những tồn tại, hạn chế

    Bên cạnh những thành tựu đạt được, hiện vẫn còn những tồn tại và hạn chế sau đây và đang làm suy giảm tính minh bạch, công khai và hiệu lực thi hành của hệ thống pháp luật, chính sách về ĐTNN:

    Một là, mặc dù đã có nhiều nỗ lực, song việc xây dựng quy hoạch phát triển một số ngành/lĩnh vực còn chậm trễ; nội dung quy hoạch thiếu rõ ràng, mâu thuẫn và chưa tính đến các cam kết quốc tế của Việt Nam về thương mại, dịch vụ và đầu tư. Do vậy, không ít quy hoạch đưa ra hạn chế về tiếp cận thị trường của nhà ĐTNN liên quan đến hình thức đầu tư, tỷ lệ góp vốn, thị trường tiêu thụ... trái với các quy định của Luật và các Nghị định liên quan đến ĐTNN (như quy hoạch phát triển ngành thép, xi măng, điện lực...). Điều này không chỉ làm hạn chế tính minh bạch và dự đoán trước được của thị trường đầu tư ở Việt Nam mà còn gây nhiều khó khăn cho các cơ quan nhà nước trong việc quyết định chủ trương đầu tư đối với một số dự án cụ thể.

    Hai là, các quy định về lĩnh vực/địa bàn khuyến khích, hạn chế, cấm ĐTNN chưa cụ thể, thiếu minh bạch và hay thay đổi. Thực tế cho thấy, so với các nước trong khu vực, lĩnh vực cho phép và hoặc khuyến khích ĐTNN của Việt Nam có phần đa dạng và phong phú hơn; danh mục các lĩnh vực hạn chế ĐTNN cũng được quy định với phạm vi hẹp hơn. Tuy nhiên, khó có thể khẳng định rằng pháp luật về vấn đề này thông thoáng, hấp dẫn hơn Trung Quốc và các nước trong khu vực. Bởi lẽ, Danh mục các lĩnh vực khuyến khích ĐTNN của Việt Nam quá dàn trải, tiêu chí khuyến khích thiếu rõ ràng, khó áp dụng; các lĩnh vực đầu tư có điều kiện không chỉ được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật mà còn chịu sự điều chỉnh bởi các những điều kiện khác do các Bộ, ngành, địa phương đặt ra đối với từng dự án cụ thể mà không theo các tiêu chí quy định tại Nghị định 24/2000/NĐ-CP và Nghị định 27/2003/NĐ-CP (như điều kiện về kinh doanh dịch vụ hàng hải, về đại lý vận tải hàng không, về quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ...). Sự thiếu rõ ràng, minh bạch và nhất quán về vấn đề này đã và đang làm biến dạng các quy định về lĩnh vực đầu tư vốn được coi là thông thoáng, cởi mở và có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực.

    Ba là, hệ thống luật pháp, chính sách về ĐTNN đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và khó dự đoán trước được. Cơ quan soạn thảo một số văn bản pháp luật liên quan đến ĐTNN chưa tuân thủ quy định về việc lấy ý kiến của các doanh nghiệp trước khi ban hành. Một số Bộ, ngành chậm ban hành các thông tư hướng dẫn Nghị định của Chính phủ về ĐTNN trong một số lĩnh vực nên đã gây khó khăn cho việc thẩm định, cấp phép đầu tư cho các dự án ĐTNN vào các lĩnh vực này. Một số ưu đãi đầu tư đã được quy định trong Nghị định của Chính phủ nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể nên khó áp dụng. Bên cạnh đó, nhiều văn bản không cụ thể dẫn tới việc các cơ quan hành pháp áp dụng và giải thích rất khác nhau. Việc xây dựng và thực thi pháp luật ở các cấp chưa thật sự có hiệu quả. Một số Bộ, ngành ban hành văn bản pháp quy về ĐTNN không đúng thẩm quyền hoặc có xu hướng thắt chặt hơn quy định của Luật Đầu tư nước ngoài. Nhiều văn bản, chính sách liên quan đến ĐTNN chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của nhà đầu tư đã làm đảo lộn phương án kinh doanh và gây thiệt hại cho các doanh nghiệp.

    Bốn là, thủ tục thẩm định, cấp Giấy phép đầu tư, điều chỉnh Giấy phép đối với các dự án tuy đã được cải tiến nhưng vẫn còn phức tạp; thời gian thẩm định nhiều dự án bị chậm trễ do phải thống nhất ý kiến giữa các Bộ, ngành. Một số thủ tục liên quan đến việc triển khai dự án như: đất đai, xây dựng, xuất nhập khẩu, hải quan... còn phiền hà và chậm được cải tiến. Tình hình này cùng với những hành vi sách nhiễu, tiêu cực của một số viên chức đã làm biến dạng các chủ trương chính sách của Nhà nước về ĐTNN và làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư.

    Năm là, các chương trình vận động đầu tư còn kém hiệu quả do phương thức tuyên truyền và phổ biến thông tin về đầu tư quá đơn giản, thiếu cập nhật và chưa được thể hiện bằng các phương tiện hiện đại. Điều này đã làm hạn chế đáng kể đến sự hiểu biết của nhà đầu tư về Việt Nam nói chung cũng như tính minh bạch của môi trường và các cơ hội đầu tư ở Việt Nam nói riêng.

2. Một số giải pháp

    Những hạn chế về tính minh bạch của môi trường đầu tư là một trong những nguyên nhân làm giảm sức hấp dẫn và cạnh tranh thu hút ĐTNN của Việt Nam. Để khắc phục những hạn chế này, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    Nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch phát triển các ngành và vùng lãnh thổ theo hướng bổ sung một số quy hoạch còn thiếu, đồng thời rà soát điều chỉnh quy hoạch ngành một số ngành để đảm bảo tính minh bạch và phù hợp với định hướng thu hút ĐTNN cũng như các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư của Việt Nam.

- Bảo đảm quyền tự do lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực đầu tư của nhà ĐTNN theo hướng công bố rõ ràng các lĩnh vực không cấp Giấy phép đầu tư (các dự án gây nguy hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, di tích lịch sử, văn hóa, thuần phong mỹ tục và môi trường sinh thái...), cho phép nhà ĐTNN được đầu tư vào tất cả các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế mà pháp luật không hạn chế hoặc cấm.

- Tiếp tục cải tiến thủ tục đầu tư và nâng cao hiệu quản lý nhà nước về ĐTNN theo những hướng: (i) mở rộng phạm vi các dự án đăng ký cấp phép đầu tư phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam; (ii) thu hẹp phạm vi các dự án nhóm A phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; (iii) mở rộng chế độ phân cấp cấp giấy phép đầu tư và quản lý hoạt động ĐTNN cho Ủy ban nhân dân và Ban quản lý Khu công nghiệp cấp tỉnh trên cơ sở duy trì quy hoạch thống nhất; (iv) nâng cao trách nhiệm và tăng cường cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa các Bộ, ngành, cơ quan cấp Giấy phép đầu tư...; (v) công bố công khai mọi quy trình, thời hạn, trách nhiệm xử lý các thủ tục ĐTNN nhằm tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về cải cách hành chính trong lĩnh vực này. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý Nhà nước giữa Chính phủ, các Bộ, ngành và chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên các lĩnh vực chủ yếu như: quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển; ngân sách nhà nước; đất đai, tài nguyên; doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức.

- Đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc áp dụng các ưu đãi đầu tư theo hướng: (i) chuyển toàn bộ các Danh mục lĩnh vực, ngành nghề và địa bàn được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp từ hệ thống các văn bản về thuế thu nhập doanh nghiệp vào Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư chung nhằm đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán trong việc áp dụng các ưu đãi đầu tư; (ii) tiếp tục duy trì quy định của Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước về việc ghi cụ thể ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các ưu đãi đầu tư khác tại Giấy phép đầu tư/Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư nhằm khẳng định cam kết của Nhà nước đối với nhà đầu tư, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện nguyên tắc không hồi tố khi có sự thay đổi của luật pháp, chính sách; (ii) rà soát toàn bộ các ưu đãi đầu tư đang áp dụng để xác định mức độ tương thích của các ưu đãi này với Hiệp định của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM); (iii) đơn giản hóa một số tiêu chí áp dụng ưu đãi đầu tư, đặc biệt là ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm nâng cao tính minh bạch, công khai và khả thi trong việc áp dụng các ưu đãi này.

- Hoàn chỉnh quy trình ban hành các văn bản pháp quy để ngăn chặn việc ban hành các văn bản trái quy định chung hoặc thực hiện không nghiêm các văn bản pháp luật của Chính phủ trong lĩnh vực ĐTNN; xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc quản lý hoạt động ĐTNN theo đúng thẩm quyền, trách nhiệm.

- Tiếp tục rà soát các văn bản pháp luật về ĐTNN để công bố công khai các văn bản đã hết hiệu lực, chồng chéo, mâu thuẫn gây cản trở hoạt động ĐTNN, đồng thời xem xét mức tương thích của hệ thống pháp luật với các cam kết quốc tế của Việt Nam về ĐTNN để xây dựng kế hoạch soạn thảo văn bản mới và/hoặc điều chỉnh cho phù hợp.

- Tiếp tục khuyến khích sự tham gia rộng rãi của các doanh nghiệp và các đối tượng chịu sự tác động khác vào việc góp ý xây dựng văn bản pháp luật về ĐTNN, đồng thời tăng cường cơ chế đối thoại dưới nhiều hình thức khác nhau giữa các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp nhằm tạo diễn đàn trao đổi về những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của họ và tìm giải pháp khắc phục.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình vận động đầu tư và tài liệu tuyên truyền đầu tư nhằm nâng cao tính minh bạch cũng như hiểu biết của nhà đầu tư về môi trường và các cơ hội đầu tư ở Việt Nam.

TRẦN HÀO HÙNG

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

 

Trích nguồn:
Tác giả:
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202