Phân tích và Dự báo

Tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Cập nhật lúc: 27/09/2005 12:00:00 AM

HƠN 5000 DỰ ÁN FDI ĐANG HOẠT ĐỘNG

    Cùng với các thành tựu chung của cả nước, năm qua lĩnh vực thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Trong 16 năm qua, chúng ta đã cấp phép cho hơn 6100 dự án với tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 58 tỷ USD và đã thực hiện gần 30 tỷ USD; riêng năm 2004, đã cấp phép cho 679 dự án đầu tư mới với 223 dự án công nghiệp nặng, 187 dự án công nghiệp nhẹ, 87 dự án nông - lâm - ngư nghiệp,...

    Các tỉnh phía Bắc như Hà Nội có 67 dự án, Vĩnh Phúc 19 dự án, Hải Phòng 16 dự án,... trong khi các tỉnh phía Nam vẫn giữ truyền thống có nhiều dự án như Thành phố Hồ Chí Minh 194 dự án, Bình Dương 130 dự án, Đồng Nai 71 dự án,... Có nhiều tỉnh lâu nay ít dự án cũng đã có dự án mới như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bình Phước, Bình Thuận, Gia Lai, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai,... Về các đối tác, bên cạnh các đối tác truyền thống như Hàn Quốc 154 dự án, Đài Loan 142 dự án, Nhật Bản 57 dự án, Xingapo 46 dự án, Hoa Kỳ 26 dự án, Pháp 9 dự án, Đức 8 dự án,... đã có thêm nhiều nhà đầu tư nổi lên như CHND Trung Hoa 64 dự án. Tính chung, trừ những dự án hết thời hạn hoạt động hoặc giải thể trước thời hạn, đến nay đang còn hơn 5000 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn lên tới hơn 45 tỷ USD. Riêng năm 2004 vừa qua, vốn FDI được đưa vào thực hiện đạt gần 2,9 tỷ USD, cao hơn các năm trước, góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam năm 2004. Đồng thời, tính chung số đăng ký mới và tăng vốn, Việt Nam đã thu hút được 4,2 tỷ USD, mức cao nhất từ năm 1997 đến nay. Điều đáng nói là bên cạnh các dự án đầu tư mới, do kinh doanh có hiệu quả, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng thêm vốn đầu tư. Riêng năm 2004, đầu tư qua tăng vốn đã lên tới gần 2 tỷ USD.

    Tác động của các dự án FDI đối với nền kinh tế là rất lớn. Do mức tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn thấp và thực tế chỉ huy động khoảng 25% GDP nên vốn bên ngoài, trong đó có vốn FDI là nguồn bổ sung vốn quan trọng, cùng với vốn ODA và các khoản vay khác vẫn chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư phát triển, riêng nguồn vốn FDI chiếm tới 16% tổng vốn đầu tư phát triển. Đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp, khu vực các doanh nghiệp FDI đóng góp 36% giá trị sản lượng của ngành này. Các khu công nghiệp, khu chế xuất đã thu hút hơn 30% vốn FDI. Các dự án FDI (ngoài dầu khí) đã tạo nên 33% giá trị xuất khẩu (nếu kể cả dầu khí thì lên tới 55%), đóng góp 10% cho nguồn thu ngân sách, tạo ra 740 nghìn chỗ làm việc trực tiếp với năng suất cao và hơn 1 triệu chỗ làm việc gián tiếp khác, thực hiện chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý trong các ngành kinh tế quan trọng. Có thể nói, khu vực FDI, hiện chiếm tới 14,8% GDP, đã thực sự trở thành bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế.

KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC

    Trên con đường phát triển, chúng ta cũng ghi nhận những khó khăn khách quan và cả những yếu kém chủ quan trong lĩnh vực thu hút và sử dụng vốn FDI.

Đó là quy mô thu hút vốn, mặc dù đã tăng lên nhưng còn dưới khả năng thực tế, còn nhiều dự án đang chờ cấp phép do còn những vướng mắc về cơ chế chính sách và tổ chức quản lý, một số nhà đầu tư còn lưỡng lự khi quá trình hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu đang đi vào chiều sâu. Chúng ta đã không tận dụng triệt để được những lợi thế so sánh của đất nước về ổn định chính trị xã hội, nguồn nhân lực khá và một thị trường nội địa có sức mua đang tăng trưởng nhanh với 82 triệu dân (chỉ riêng năm 2004, tổng mức lưu chuyển hàng bán lẻ và dịch vụ đã tăng trên 18%).

    Cơ cấu của nguồn vốn này cũng có phần chưa hợp lý: Đầu tư vào nâng cấp cơ sở hạ tầng, lĩnh vực dịch vụ cao cấp còn khiêm tốn. Các đối tác có công nghệ cao, tiên tiến chưa nhiều, trong đó các nước G7 mới chiếm 23% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Trong khi đó, một số không nhỏ dự án có vốn FDI làm ăn không hiệu quả, quy mô còn nhỏ, sử dụng thiết bị công nghệ bình thường, thiếu công nghiệp phụ trợ.

    Tình trạng tranh chấp lao động còn xảy ra ở một số doanh nghiệp có vốn FDI, tuy không nhiều nhưng đang gây tâm lý e ngại cho những nhà đầu tư tiềm năng, cần được các bên tập trung giải quyết trong thời gian tới.

    Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan cũng rất quan trọng. Đó là nhận thức và quan điểm về phát triển và xử lý các phát sinh trong quá trình vận hành của luồng vốn FDI tại Việt Nam và hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ, nhất quán; quy hoạch phát triển một số ngành còn đang được xây dựng, hoàn chỉnh nhằm lược bỏ một số quy định không còn phù hợp đang hạn chế khu vực FDI như lĩnh vực công nghiệp xi măng, sắt thép, dịch vụ hàng hải, đại lý vận tải hàng không, dịch vụ bảo vệ,... Thủ tục thẩm định dự án còn phức tạp, đội ngũ cán bộ quản lý còn có nhiều hạn chế về năng lực, trình độ, nhất là trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp.

    Công tác quản lý vốn FDI đã có nhiều cải tiến, tăng cường phân cấp, nhưng cũng chưa đáp ứng hết nhu cầu của tình hình, nguyện vọng của các nhà đầu tư. Đặc biệt sự phối hợp ngành, liên vùng trong quản lý còn nhiều bất cập.

    Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để có thể thu hút và sử dụng các nguồn vốn này có lợi cho cả bên đầu tư và cho đất nước?

    Trước hết, chúng ta phải lưu ý xem xét ý kiến của các nhà đầu tư nước ngoài và nguyện vọng của họ khi đầu tư vào nước ta.

    Nhìn chung, hình ảnh của Việt Nam không ngừng được cải thiện trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài; họ ủng hộ chính sách đổi mới và rất mong muốn Việt Nam sớm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm tạo thêm thuận lợi cho họ tại Việt Nam trên cơ sở hoàn chỉnh hệ thống pháp luật phù hợp với tập quán đầu tư, kinh doanh quốc tế. Một nghiên cứu mới nhất của Hội nghị Liên hiệp quốc về hợp tác thương mại và phát triển - UNCTAD cho thấy Việt Nam được xếp trong tốp thứ tư và trong vùng Châu á - Thái Bình Dương sau Trung Quốc (tốp 1), ấn Độ (tốp 2), Thái Lan (tốp 3) và ngang với Hàn Quốc (tốp 4) về triển vọng thu hút vốn FDI trong năm 2004 - 2005. Các nhà đầu tư và kinh doanh bao giờ cũng mong muốn lợi nhuận, nhưng đó là lợi nhuận thu được do họ có điều kiện phát huy được các sở trường thế mạnh của mình, phù hợp với pháp luật Việt Nam và quốc tế. Do đó, khi hoạch định chính sách thu hút và sử dụng FDI cần phải chú ý thích đáng hơn nữa đến các thông tin rất đa dạng về các đối tác. Chẳng hạn, chúng ta muốn ưu tiên thu hút đầu tư các dự án từ các nước G7. Điểm nhấn này là đúng địa chỉ, nhưng trên thực tế nếu đầu tư vào nước ta, nhất là trong điều kiện toàn cầu hoá, các dự án này chỉ tham gia trong một số khâu của quá trình phân công trong mạng lưới sản xuất toàn cầu, tạo nên một số mắt xích trong "chuỗi giá trị". Mục tiêu nội địa hoá mà chúng ta đặt ra cho đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực công nghiệp, nhất là đối với các công ty xuyên quốc gia (TNCs) sẽ gặp khó khăn. Các nước gọi là "công nghiệp phát triển" nhưng lĩnh vực phát triển mạnh nhất, tạo ra nhiều giá trị gia tăng nhất lại không phải là khu vực công nghiệp, mà là khu vực dịch vụ, chiếm đến 60-70% GDP của các nước này. Còn đối với các lĩnh vực công nghiệp, công nghệ cao thì khả năng "chuyển giao công nghệ" sẽ rất hạn chế, một phần do chính sách của họ, một phần do khả năng "nội sinh" còn khiêm tốn của giới nghiên cứu và thực hành chuyển giao công nghệ nước ta.

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH THU HÚT ĐẦU TƯ

    Trong năm tới, các chính sách mới cần được tiếp tục xác lập trên cơ sở kiên trì con đường đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cần phát huy những lợi thế rất cơ bản về tình hình chính trị - kinh tế - xã hội ổn định, chính sách đổi mới nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, về những lợi thế so sánh của đất nước, về vị trí địa lý - chính trị của nước ta và những ưu điểm của con người Việt Nam.

    Các giải pháp mới sẽ bao gồm hệ thống các chính sách và giải pháp về các lĩnh vực ưu tiên, các cơ chế ưu đãi, và các giải pháp khác về tổ chức, phân cấp quản lý, về khoa học công nghệ, về phát triển nguồn nhân lực, về nâng cấp cơ sở hạ tầng,...

    Trong các lĩnh vực thu hút vốn FDI, bên cạnh các lĩnh vực truyền thống của công nghiệp, nông nghiệp và hệ thống công nghiệp phụ trợ, sẽ đẩy mạnh thu hút vốn FDI vào nâng cấp cơ sở hạ tầng và phát triển khu vực dịch vụ, đây là những lĩnh vực rộng lớn. Trong vòng đàm phán lần thứ 9 gia nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra bản chào mới nhất, trong đó 8 ngành đã cam kết trong Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA), Việt Nam còn đưa ra các cam kết với 3 ngành mới là dịch vụ vận tải, môi trường và văn hoá. Việt Nam cũng đang tiến hành đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA). Nói chung, các cam kết quốc tế của Việt Nam về dịch vụ có hình thức, phạm vi và mức độ khác nhau, song đều hướng đến mục tiêu chung là từng bước mở cửa thị trường dịch vụ và thực hiện chế độ không phân biệt đối xử cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài theo lộ trình nhất định.

    Thực hiện các cam kết này cũng như cải thiện hệ thống pháp lý đi cùng cải cách hành chính sâu rộng sẽ là nhân tố quan trọng để củng cố lòng tin của các nhà đầu tư về sức hấp dẫn và cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam. Cũng sẽ có sự đổi mới mạnh mẽ để các nhà đầu tư có thể tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực về xây dựng cơ sở hạ tầng (bằng cả hình thức BOT, BT), tham gia đầu tư phát triển các ngành công nghiệp quan trọng, thu hút được nhiều TNCs, các nhà đầu tư từ các nước thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển G7 cũng như người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

    Thực hiện các cơ chế ưu đãi đầu tư cũng được quan tâm, những sẽ được quản lý chặt chẽ. Như đã biết, các ưu đãi có tác động giới hạn, không trực tiếp quyết định khả năng nhà đầu tư có đầu tư hay không, mà chủ yếu tác động tới các quyết định về địa điểm cũng như lĩnh vực đầu tư. Tình trạng "cạnh tranh" không lành mạnh hiện nay giữa một số địa phương về "các ưu đãi" đang làm xấu đi môi trường đầu tư của cả nước.

    Việc xây dựng danh mục dự án quốc gia gọi vốn FDI cũng như ưu tiên của các địa phương một thời gian dài chưa được thực hiện chu đáo, còn đơn giản, thiếu chuẩn bị các nghiên cứu tiền khả thi. Khắc phục thiếu sót này sẽ cải tiến theo hướng xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia có bài bản hơn, được phối hợp liên ngành, liên vùng tốt hơn. Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ phối hợp với các ngành và các địa phương để việc huy động FDI được gắn kết với việc thực hiện Chiến lược, quy hoạch và các kế hoạch, gắn kết tốt hơn giữa việc huy động và sử dụng vốn ODA với nguồn vốn FDI, nhất là trong việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý,...

    Đối với công tác quản lý đầu tư, sẽ chú trọng cải tiến một cách khá toàn diện, cả việc cấp phép, đăng ký cấp phép cũng như tăng cường việc theo dõi, giám sát và xử lý các vấn đề "hậu giấy phép". Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc phân cấp quản lý đầu tư trong và ngoài nước gắn với tăng cường phối hợp, giám sát đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, đi sâu vào các loại hình, các đối tác khác nhau để khai thác các lợi thế đặc thù của từng đối tác cũng như mở rộng địa bàn thu hút ra các ngành, các lĩnh vực và các địa phương lâu nay còn thu hút được ít FDI.

    Trong năm 2005, trong sự chỉ đạo chung của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Đầu tư nước ngoài sẽ phối hợp với các ngành, các nhà đầu tư để cùng xây dựng dự thảo một Luật Đầu tư thống nhất trình Quốc hội thông qua. Theo đó, sẽ có hàng loạt điều chỉnh quan trọng như điều chỉnh một số quy định về hình thức góp vốn, huy động vốn, tỷ lệ góp vốn, chuyển nhượng vốn, từng bước chuyển việc thẩm định cấp phép sang chế độ đăng ký cấp phép đầu tư. Cũng sẽ nghiên cứu thay đổi chế độ quy định về tỷ lệ nội địa hoá bằng áp dụng ưu đãi thuế. Và sẽ có hàng loạt thay đổi khác theo hướng công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, mở rộng quyền tự do kinh doanh. Nghiên cứu việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư gián tiếp, thông qua việc mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như thành lập các công ty hợp danh trong các lĩnh vực kinh doanh có chuyên môn, nghiệp vụ cao như tư vấn pháp luật, kiểm toán. Nghiên cứu cho phép thành lập cả công ty quản lý vốn, điều phối cùng lúc nhiều dự án đầu tư tại Việt Nam.

    Phát huy thành tựu năm 2004, nhất định năm mới - năm Ất Dậu, lĩnh vực thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI sẽ có những chuyển biến mới mạnh mẽ hơn, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của kế hoạch năm 2005 với chất lượng và hiệu quả cao nhất.

TS. PHAN HỮU THẮNG

Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT.

Trích nguồn:
Tác giả:
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202