Phân tích và Dự báo

Diễn biến giá cả chung trên cả nước trong tháng 4/2005 và biện pháp ổn định giá cả một số mặt hàng quan trọng

Cập nhật lúc: 03/10/2005 12:00:00 AM

I. Diễn biễn giá cả trong tháng 4/2005

Với đà tăng trưởng của hoạt động thương mại nội địa, cùng với những tác động tăng giá của một số ngành hàng, chỉ số giá tháng 4 trên cả nước đã tăng mạnh. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tháng 4 tăng 0,6% -  cao hơn nhiều so với những dự báo trước đây của các chuyên gia, đưa chỉ số giá tiêu dùng 4 tháng đầu năm lên mức 4,3%. Để đạt được chỉ tiêu về chỉ số tăng giá đề ra cho cả năm 2005, trong những tháng cuối năm, tốc độ tăng giá bình quân không được vượt quá 0,25%/tháng.

Trong những tháng tới, tình hình thị trường trong nước dự báo sẽ có nhiều biến động, gây khó khăn cho công tác quản lý vĩ mô thị trường:

- Trên thị trường thế giới, tình hình giá cả một số mặt hàng trọng yếu như xăng dầu, sắt thép, phân bón…vẫn diễn biến phức tạp và có xu hướng tiếp tục kéo dài, trong khi đó hệ thống phân phối các mặt hàng này vẫn chưa được hoàn thiện khiến giá cả sẽ có xu hướng tăng trong thời gian tới. 

- Hạn hán kéo dài và có xu hướng lan rộng ở các tỉnh miền Trung và miền Nam đã và sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông nghiệp, gây tác động bất lợi tới giá cả các mặt hàng lương thực – thực phẩm.

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đôla Mỹ trên cả nước trong tháng 4/ 2005

 

Chỉ số tháng 4 năm 2005 so với (%)

Kỳ gốc

năm 2000

Tháng 4 năm 2004

Tháng 12 năm 2004

Tháng 3 năm 2005

Chỉ số giá tiêu dùng

124,1

108,5

104,3

100,6

Lương thực - Thực phẩm

135,2

112,4

106,6

100,5

   Trong đó: 1- Lương thực

131,5

111,2

105,4

100,5

                 2- Thực phẩm

137,3

113,0

106,8

100,5

Đồ uống và thuốc lá

116,6

104,3

102,5

100,2

May mặc, mũ nón, giầy dép

111,6

103,3

101,3

100,3

Nhà ở và vật liệu xây dựng

128,3

104,9

102,2

101,1

Thiết bị và đồ dùng gia đình

110,3

104,1

101,8

100,4

Dược phẩm, y tế

136,1

105,0

101,7

100,6

Phương tiện đi lại, bưu điện

103,3

107,6

102,3

101,5

Giáo dục

118,1

101,3

100,4

100,2

Văn hoá, thể thao, giải trí

100,9

100,2

101,3

99,9

Đồ dùng và dịch vụ khác

117,7

105,8

102,2

100,2

Chỉ số giá Vàng

170,3

103,8

97,3

99,2

Chỉ số giá Đô la Mỹ

111,3

100,1

100,2

100,1

II. Biện pháp ổn định giá cả một số mặt hàng quan trọng

1. Xăng dầu

Hiện nay, tình hình thị trường xăng dầu trên thế giới cũng như trong nước vẫn đang diễn biến phức tạp. Điều này có ảnh hưởng lớn không những đến các ngành sản xuất có sử dụng nguồn nhiên liệu đầu vào này mà còn cả với đời sống sinh hoạt của người dân.

Sau một thời gian giá xăng dầu trên thế giới tăng mạnh, cho đến nay giá dầu thô trên thế giới đã có dấu hiệu giảm nhẹ. Cho đến giữa tháng 4, giá dầu thô thế giới đã giảm xuống mức 47 – 48,5USD/thùng. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, trong điều kiện hiện nay, khi tình hình chính trị ở khu vực Trung Đông vẫn còn diễn biến phức tạp, nhu cầu xăng dầu phục vụ sản xuất tại nhiều quốc gia phát triển đang tăng sẽ khiến giá dầu khó có khả năng giảm nhiều.

Trong tháng 4, lượng nhập khẩu xăng dầu của nước ta ước đạt 1 triệu tấn, giảm 6,4% so với tháng 3. Như vậy sau 4 tháng đầu năm, tổng lượng nhập khẩu xăng dầu ước đạt 3.908 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2004 và đạt 32% kế hoạch cả năm.

Trên thị trường nội địa, trước áp lực tăng giá trong tháng 3, giá xăng đã được điều chỉnh tăng thêm 500 đồng/lít. Mục tiêu của việc điều chỉnh này là để Nhà nước không phải tiếp tục bù lỗ xăng dầu do sự chênh lệch giữa giá nhập khẩu và giá bán như trong thời gian qua.

Với diễn biến giá dầu đang có chiều hướng giảm nhẹ, Bộ Tài chính đang nghiên cứu đến việc trong thời gian tới sẽ khôi phục lại thuế nhập khẩu đối với mặt hàng này cũng như điều chỉnh hợp lý giá bán lẻ. Những biện pháp này nhằm đảm bảo lợi ích giữa người tiêu dùng – doanh nghiệp – Nhà nước.

Tuy nhiên, trước khi đưa ra những biện pháp vĩ mô hợp lý đối với mặt hàng nhiên liệu quan trọng này, hiện nay hiện tượng buôn lậu xăng dầu vẫn chưa được ngăn chặn đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường, các ngành sản xuất, giảm hiệu quả chính sách của Nhà nước. Việc giải quyết tận gốc tình trạng này trong điều kiện hiện nay là rất khó. Trước mắt, Bộ Thương mại đã chủ động sắp xếp các đại lý xăng dầu, nghiêm cấm các đại lý tiếp tay, móc ngoặc với tư thương. Đồng thời về lâu dài Chính phủ sẽ có những tính toán nhằm điều chỉnh linh hoạt giá xăng dầu trong nước theo diễn biến thị trường thế giới.

2. Sắt thép

Hiện nay trên thị trường thế giới, giá phôi thép vẫn tiếp tục tăng. Nguyên nhân của tình trạng này là do sự điều chỉnh chính sách xuất khẩu phôi thép của Trung Quốc. Bắt đầu từ tháng 4, Chính phủ Trung Quốc quyết định bãi bỏ hoàn toàn thuế giá trị gia tăng (13%) đối với phôi và bán thành phẩm thép. Đồng thời, hiện nay, 3 tập đoàn khai thác quặng hàng đầu thế giới đã tuyên bố tăng 2/3 giá quặng nguyên liệu. 

Hiện nay, giá phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam đã tăng 4 – 5% so với cuối tháng 3 (tức là từ 10 – 15USD/tấn).

Trên thị trường nội địa, trong tháng 4, lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam đạt khoảng 450.000 tấn, tăng 4,4% so với tháng trước, trong đó có 280.000 tấn thép thành phẩm và 170.000 tấn phôi. Như vậy tính cho cả 4 tháng đầu năm, lượng thép nhập khẩu ước đạt 1.947.000 tấn, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó lượng thép thành phẩm nhập khẩu ước đạt 1.045.000 tấn và phôi thép ước đạt 602.000 tấn.

Trong khi đó, lượng tiêu thụ thép xây dựng trong nước tăng nhẹ. Ước tính lượng tiêu thụ thép tháng 4 đạt khoảng 230 nghìn tấn thép xây dựng và khoảng 275 nghìn tấn thép tấm, thép ống.

Về giá cả, do biến động về giá phôi đầu vào, giá bán thép trong tháng 4 mặc dù vẫn được ghìm giá song cũng đã tăng nhẹ. Hiện giá bán thép xây dựng ở miền Bắc phổ biến ở mức 7.800 – 8.000 đồng/kg, ở miền Nam mức giá này là từ 7.650 – 8.150 đồng/kg. Đối với thép cuộn, mức giá tại 2 miền ở mức 7.700 – 8.200 đồng/kg.

Trước những biến động mạnh của giá phôi thép thế giới, hiện nay Chính phủ đang cùng các Bộ, ngành phối hợp đưa ra những giải pháp nhằm bình ổn thị trường thép trước nguy cơ xảy ra cơn sốt giá mới. Trước mắt, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh sản xuất phôi và thép đảm bảo đủ nhu cầu trên thị trường, không để xảy ra tình trạng khan hiếm dẫn đến đầu cơ, trục lợi của tư thương, đồng thời tăng cường quản lý chặt khâu phân phối. Mặ khác, trước sức ép về giá phôi, Hiệp hội Thép đang đề nghị Bộ Tài chính cho phép giảm thuế nhập khẩu phôi từ 5% xuống 0%. Sự điều chỉnh này sẽ làm giảm áp lực về giá nhập khẩu nguyên liệu cho ngành sản xuất thép. Tuy nhiên, cho đến nay, Bộ Tài chính chưa thông qua đề nghị này với lý do là nếu thực hiện sẽ ảnh hưởng lớn đến việc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư tự sản xuất phôi thép.

3. Xi măng

Trong tháng 4, mức xi măng tiêu thụ ước đạt 2 triệu tấn. Tính chung 4 tháng đầu năm, mức tiêu thụ đạt 8 triệu tấn, bằng 28% kế hoạch năm. Clinker nhập khẩu ước đạt 1,5 triệu tấn với mức giá clinker có xu hướng tiếp tục tăng. Dự kiến trong cả năm 2005, giá clinker nhập khẩu sẽ là khoảng 20 - 30 USD/tấn (hiện tại, giá nhập khẩu bình quân là khoảng 26 USD/tấn).

Giá cả xi măng trên thị trường tương đối ổn định (ở miền Bắc là khoảng 760 - 800 nghìn đồng/tấn, ở phía Nam là khoảng 880 - 970 nghìn đồng/tấn). Giá bán lẻ xi măng có tăng thêm 5.000 - 10.000/tấn là do sự thay đổi chi phí chiết khấu hoa hồng đại lý. Hiện nay, xi măng gặp khó khăn do giá xăng dầu, clinker, thạch cao... tăng và có xu hướng tiếp tục tăng. Khả năng duy trì mức giá như hiện nay là có giới hạn vì nếu kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngành, nhất là trong điều kiện phải tăng tích luỹ để đẩy nhanh tốc độ đầu tư các dự án mới...

Từ nay đến cuối năm,  tiêu thụ xi măng của nước ta sẽ tiếp tục đứng ở mức cao do nhu cầu xây dựng đang tăng mạnh, nhiều công trình của kế hoạch 5 năm đứng trước yêu cầu phải hoàn thành. Nhu cầu tăng trong khi sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu, do đó để đảm bảo duy trì sản xuất ổn định, hạn chế sự "nóng" lên của mặt hàng này, có thể tóm tắt một số biện pháp được đề xuát trong thời gian tới như sau:

- Tổng Công ty Than thống nhất một mức giá bán than cho tất cả các doanh nghiệp sản xuất xi măng, ngoài ra xem xét việc đưa mặt hàng than vào danh mục hàng hoá tham gia bình ổn thị trường.

- Tổng Công ty Xi măng Việt Nam với vai trò tham gia vào việc bình ổn thị trường cần tính toán kỹ nhu cầu tiêu thụ xi măng từng tháng, quý, bố trí điều chuyển xi măng, clinker giữa các khu vực khi cần thiết.

- Tiếp tục nghiên cứu các biện pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống phân phối của ngành xi măng.

- Cần có lộ trình tăng giá các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất xi măng (than, điện...), tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất chủ động hơn trong sản xuất.

4. Phân bón

Trong tháng 4, lượng phân urê nhập khẩu ước đạt 110 nghìn tấn, tính chung 4 tháng đầu năm nhập khẩu ước đạt 285 nghìn tấn, đạt 16,8% kế hoạch 2005. 

Từ đầu năm đến nay, do giá dầu tăng nên thị trường phân bón thế giới vẫn chưa ổn định, có thể giá urê còn đứng ở mức cao. Hiện tại giá phân bón nhập khẩu đứng ở mức bình quân là khoảng 245 - 250 USD/tấn, thời điểm cuối tháng 4 lên tới 280 - 290 USD/tấn. Tại thị trường nội địa giá urê của Phú Mỹ là 4.100 đồng/kg, thấp hơn giá nhập khẩu khoảng 500 đồng/kg, như vậy hàng nhập khẩu không thể cạnh tranh với hàng nội địa. Do đó, nếu các doanh nghiệp tạm dừng nhập khẩu sẽ tiềm ẩn nguy cơ thiếu phân bón cho vụ Đông tới. Sản lượng của Phú Mỹ sản xuất hết công suất không thể đáp ứng đủ nhu cầu do năng lực cung ứng urê trong nước chỉ chiếm khoảng 30% tổng nhu cầu trong nước. Bên cạnh đó, điều đáng lo ngại là do giá phân cao nên nông dân có thể giảm chăm bón, ảnh hưởng đến chất lượng đất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Dự báo thời gian tới giá phân bón trên thị trường thế giới còn ở mức cao do sự tăng giá của dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu mỏ. Để phục vụ đủ phân bón cho sản xuất với giá cả ổn định, các biện pháp kiến nghị được tóm tắt như sau:

- Bộ Thương mại cung cấp kịp thời các thông tin về tình hình giá cả thế giới, cung cầu thị trường phân bón trong nước, nghiên cứu biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp nhập khẩu đáp ứng nhu cầu sản xuất.

- Để tạo mặt bằng kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp kinh doanh phân bón, Nhà máy đạm Phú Mỹ cần nhanh chóng nghiên cứu một phương thức phân phối hợp lý, đảm bảo ổn định và kiểm soát được giá cả, tránh đầu cơ. Đồng thời, kết hợp với các doanh nghiệp chuyên doanh phân bón lớn để tổ chức hình thành hệ thống tổng đại lý.

- Tiến hành kiểm tra các đầu mối cung ứng phân bón lớn, tiếp tục chỉ đạo các doanh nghiệp thiết lập, củng cố hệ thống phân phối phân bón trên cả nước, trong đó nhà sản xuất và nhà nhập khẩu lớn giữ vai trò chủ đạo, hạn chế trung gian lợi dụng ép giá nông dân.

- Chính phủ chỉ đạo các ngành phối hợp đẩy nhanh các dự án sản xuất phân bón, trước mắt là dự án sản xuất phân DAP nhằm giảm dần phụ thuộc vào nhập khẩu.       

Trích nguồn:Theo Tổng cục Thống kê và Vụ Thương mại Dịch vụ - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Tác giả:
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202