Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Một số đánh giá về thực trạng ô nhiễm môi trường Việt Nam thời gian qua

Cập nhật lúc: 31/08/2022 04:38:00 PM

Sau 35 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực. Cùng với đó, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao; y tế và chất lượng chăm sóc sức khỏe được tăng cường... Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội nước ta đã bộc lộ nhiều bất cập và tạo ra nhiều áp lực lớn đối với môi trường sinh thái. Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, xâm nhập mặn gia tăng; các sự cố môi trường xảy ra ngày càng nhiều, ảnh hưởng đến hệ sinh thái cũng như sức khỏe con người. Cụ thể:

  1. Chất lượng không khí trong các đô thị lớn diễn biến phức tạp, ô nhiễm bụi và phát thải khí CO2 gia tăng

Ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm bụi (PM10, PM2.5) đang trở thành vấn đề báo động ở Việt Nam, trực tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân. Tình trạng ô nhiễm ô nhiễm bụi, đặc biệt là bụi mịn PM2.5 tại một số địa phương có xu hướng gia tăng.

Theo thống kê của Bộ TN&MT cho giai đoạn 2010 – 2018, nồng độ của PM2.5 hàng năm tại các trạm quan trắc ở Hà Nội, Phú Thọ, Quảng Ninh đều cao hơn ngưỡng Quy chuẩn quốc gia là 25 µg/m3. Trong khi đó, ở một số thành phố khác như Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, nồng độ bụi PM2.5 đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia nhưng vẫn cao hơn khuyến nghị của WHO là 10 µg/m3. Từ năm 2018 đến năm 2019, nồng độ bụi PM2.5 có xu hướng tăng hơn so với giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017. Nồng độ bụi mịn PM 2.5 trung bình của Việt Nam năm 2018 và 2019 lần lượt là 32,9 μg/m³ và 34,1 μg/m³ (AirVisual, 2021). Chỉ số chất lượng không khí tại một số đô thị như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều thời điểm ở mức xấu với chỉ số chất lượng không khí từ 150 đến 200, có khi vượt mức 200 -  tương đương mức rất xấu (Bộ TN&MT, 2020)

Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm trung bình ở Việt Nam năm 2020 đã giảm 18% so với năm 2019 do Chính phủ áp dụng những biện pháp nghiêm ngặt để giảm thiểu sự lây lan của dịch bệnh Covid-19 như giãn cách xã hội, cách ly, cấm tụ tập đông người…. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn xếp thứ 21 trong bảng xếp hạng các quốc gia ô nhiễm nhất thế giới theo số liệu của Airvisual (2021) và nồng độ bụi mịn PM2.5 ở hầu hết các thành phố vẫn ở mức cao hơn nhiều so với thông số cho phép[1] (Hình 9). Nếu không có các biện pháp chính sách can thiệp, nồng độ PM2.5 tại các thành phố của Việt Nam có thể tăng khoảng 20-30% đến năm 2030 (Amann và cộng sự 2018).

Hình 1. Nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình của một số đô thị lớn tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 (μg/m³).

Nguồn: IQAir 2020.

2. Tình trạng ô nhiễm nước mặt trong các đô thị, khu dân cư nhất là trên các hồ, sông, kênh, rạch tiếp tục gia tăng và chưa có nhiều cải thiện

Sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang gây sức ép rất lớn đến môi trường nước và sử dụng tài nguyên nước. Hầu hết các đô thị đều tập trung ven các sông lớn, hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, quá tải dẫn đến suy giảm chất lượng nước các dòng sông chảy qua, đặc biệt là sông chảy qua Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.

Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2018 – Bộ TN&MT, nguồn tài nguyên nước của nước ta chỉ ở mức trung bình trên thế giới. Tổng lượng nguồn nước từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 63%. Hiện các lưu vực sông đang tiếp nhận chất thải từ các nguồn nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề, y tế và chất thải rắn (CTR). Trong tổng lượng nước thải phát sinh ra các lưu vực, lượng nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất

Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2018

Nước thải sinh hoạt chiếm trên 30% tổng lượng thải trực tiếp ra các sông hồ, hay kênh rạch dẫn ra sông. Đông Nam bộ và đồng bằng sông Hồng là 2 vùng tập trung nhiều lượng nước thải sinh hoạt nhất cả nước.

Hình 4. Tỷ lệ chỉ số chất lượng nước theo các mức tại các điểm quan trắc thuộc các lưu vực sông giai đoạn 2016-2020

Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2020

Hầu hết các lưu vực sông trên lãnh thổ Việt Nam đều có giá trị TSS[2] và độ đục trong nước khá cao, vượt ngưỡng A2 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt), nhiều khu vợt ngưỡng B1[3], đặc biệt là vào mùa lũ..

3. Ô nhiễm môi trường do CTR cũng là một trong những điều đáng quan tâm nhất đối với bảo vệ môi trường. Rác thải sinh hoạt đô thị, nông thôn chưa được phân loại, thu gom, xử lý hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh, cảnh quan đô thị, nông thôn ở nhiều địa phương trên cả nước

Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh trên toàn quốc là khoảng 44.400 tấn/ngày. Đến năm 2019[4], con số này là 64.658 tấn/ngày (khu vực đô thị là 35.624 tấn/ngày và khu vực nông thôn là 28.394 tấn/ngày), tăng 46% so với năm 2010.

Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2019

Phân theo vùng phát triển kinh tế, các đô thị vùng Đông Nam Bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất với 4.613.290 tấn/năm (chiếm 35% tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng đồng bằng sông hồng với lượng phát sinh CTRSH là 3.089.926 tấn/năm (chiếm 24%). Các đô thị vùng Tây Nguyên có lượng CTRSH phát sinh thấp nhất 542.098 tấn/năm (chiếm 4%)

Khối lượng phát sinh CTRSH nông thôn hiện nay là 28.394 tấn/ngày (tương đương 10.363.868 tấn/năm). Vùng đồng bằng sông hồng có lượng phát sinh CTRSH nông thôn lớn nhất với 2.784.494 tấn/ năm (chiếm 27%); tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung với 2.690.517 tấn/năm (chiếm 26%); vùng đồng bằng sông cửu long phát sinh 2.135.925 tấn/năm (chiếm 21%); vùng Tây Nguyên có lượng phát sinh nhỏ nhất, chỉ 526.586 tấn/năm (chiếm 5%).

4. Suy giảm đa dạng sinh học và suy thoái các hệ sinh thái trọng yếu đang nên trầm trọng ở nước ta

Hệ sinh thái rừng tự nhiên là hệ sinh thái chịu thiệt hại nặng nề nhất trong thời gian qua ở nước ta. Theo số liệu thống kê qua các năm, trung bình mỗi năm giai đoạn 2016-2020, chúng ta mất đi 2.430 ha rừng tự nhiên; trong khi diện tích rừng sản xuất lại tăng lên so với trước đây[5]. Lý do chính khiến diện tích rừng tự nhiên bị giảm sút là do việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thác quá mức, đặc biệt là tại 2 khu vực duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Bên cạnh đó, các hệ sinh thái rạn san hô, đất ngập nước cũng có dấu hiệu suy giảm do tác động của các hoạt động kinh tế - xã hội. Theo đó, độ che phủ hệ sinh thái rạn san hô suy giảm mạnh do các yếu tố môi trường như ô nhiễm dầu, đánh bắt huỷ diệt, bão.

Ngoài ra, các hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên khác ở Việt Nam như rừng ngập mặn, cỏ biển, vùng gian triều, rừng tràm, hồ tự nhiên… có xu hướng suy giảm diện tích do các hoạt động chuyển đổi diện tích rừng sang sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, quai đê lấn biển, xói lở bờ biển. Cùng với đó, hệ sinh thái đô thị, khu dân cư tập trung, đặc biệt là diện tích cây xanh hết sức hạn chế và còn dưới mức chuẩn đặt ra so với quy định. Cụ thể, có đô thị chỉ đạt khoảng 0,5m2/người, nhiều đô thị lớn chỉ đạt khoảng 2m2/người - 3m2/người giai đoạn 2016-2020. Trong khi đó, quy định đặt ra tối thiểu là 7m2/người khu vực nội thành và khoảng 12m2/người đối với khu vực ngoại thành.

Đối với động thực vật hoang dã, số lượng các loài này ở Việt Nam trong tự nhiên đang trên đà suy giảm, nhiều loài quý hiếm bị nguy cấp và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Lý do là các hệ sinh thái tự nhiên tiếp tục bị chia cắt, thu hẹp về diện tích và xuống cấp về chất lượng; dẫn đến mất cân bằng sinh thái, làm mất nơi sinh cư và sinh sản của các loài sinh vật. Bên cạnh đó, nhiều loài bị săn bắt, khai thác, buôn bán trái phép hay do các sinh vật ngoại lai xâm hại và rủi ro từ các sinh vật biến đổi gen.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu Tiếng Việt

  1. Bành Thị Hồng Lan, 2020, “Phân tích thực trạng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam”,  http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phan-tich-thuc-trang-phat-thai-khi-nha-kinh-tai-viet-nam-72541.htm
  2.  Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2018, 2019, 2016-2020
  3. Bộ Công thương, USAID, 2017, “Các vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế”
  4. Bộ TN&MT, 2020, Báo cáo kỹ thuật đóng góp do quốc gia tự quyết định

 


[1] Theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 05:2013/BTNMT (25 µg/m3) và khuyến nghị từ WHO (10 µg/m3)

[2] TSS là đơn vị để đo tổng chất rắn lơ lửng trong nước hay còn gọi là độ đục của nước, các chấy này có thể là bùn, chất thải công nghiệp, rác thải, thực vật, hay những thứ không phải là sinh vật sống đều được gọi là tổng chất rắn lơ lửng

[3] B1 – Dùng cho mục đích tưới tiêu, thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự hoặc các mục đích sử dụng như loại B2.

[4] Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2019

[5] Báo cáo Chính phủ tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV về công tác bảo vệ môi trường năm 2021

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202