Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Quan điểm và các chính sách của Việt Nam về giảm phát thải khí CO2 trong bối cảnh mở cửa thương mại

Cập nhật lúc: 11/08/2022 04:38:00 PM

1.Quan điểm, định hướng của Nhà nước về giảm phát thải khí CO2 trong bối cảnh mở cửa thương mại

Giảm phát thải khí CO2 trong bối cảnh mở cửa thương mại là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội.

a) Hướng tới nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh và quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại.

Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững nhằm đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐKH. Theo đó, tăng trưởng xanh dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải KNK, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tăng trưởng xanh là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Với tầm quan trọng đó, trong những năm qua, Việt Nam đã và đang tích cực triển khai “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”, được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/9/2012. Chiến lược nêu 03 nhiệm vụ trọng tâm: Giảm cường độ phát thải KNK và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Xanh hoá sản xuất; thực hiện một chiến lược công nghiệp hoá sạch thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có; sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên; khuyến khích phát triển công nghệ xanh, nông nghiệp xanh. Xanh hoá lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững; kết hợp lối sống đẹp truyền thống với những phương tiện văn minh hiện đại. 

Ngày 3/6/2013, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, với nhiệm vụ trọng tâm là thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Tiếp đến, ngày 20/3/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 403/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020, trong đó, đề ra 4 chủ đề chính gồm: Xây dựng thể chế và kế hoạch tăng trưởng xanh tại địa phương; Giảm cường độ phát thải KNK và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; Thực hiện xanh hóa sản xuất; Thực hiện xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững.

Gần đây, Việt Nam đã phê duyệt và triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 với mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP, xanh hóa các ngành kinh tế, xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.  Mục tiêu cường độ phát thải trên GDP so với năm 2014 giảm ít nhất 15% đến năm 2030, 30% đến năm 2050.

Cùng với đó, Quốc hội đã ban hành mới, hoặc bổ sung, sửa đổi một số luật liên quan đến tăng trưởng xanh như: Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Luật Phòng, chống thiên tai; Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi; Luật Khí tượng thủy văn. Một số văn bản pháp quy mới đã được xây dựng nhằm thúc đẩy thực hiện các hoạt động liên quan tới tăng trưởng xanh. 

b) Thực hiện báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) Việt Nam

Theo Cục Biến đổi khí hậu, NDC cập nhật là cam kết với nỗ lực cao nhất của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với BĐKH toàn cầu. NDC năm 2020 đã điều chỉnh theo các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mới nhất của đất nước; đồng thời áp dụng các yêu cầu quốc tế đưa ra tại COP 24 năm 2018. Cụ thể, NDC 2020 đã rà soát, cập nhật và điều chỉnh các đóng góp về giảm nhẹ phát thải KNK và thích ứng với BĐKH phù hợp hơn với hiện trạng và dự báo phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đến 2030; bảo đảm mục tiêu thực hiện NDC phù hợp với các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược quốc gia về BĐKH, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Chiến lược phòng chống thiên tai. Đồng thời áp dụng một số yêu cầu mới đối với NDC được thông qua tại COP24 phù hợp với khả năng của Việt Nam.

Cụ thể, đến năm 2030 Việt Nam sẽ giảm 9% tổng lượng phát thải KNK so với kịch bản phát thải thông thường. Mức đóng góp này có thể được tăng lên tới 27% khi nhận được hỗ trợ quốc tế thông qua hợp tác song phương, đa phương và thực hiện các cơ chế mới theo Thỏa thuận Paris về BĐKH. So với NDC hiện nay, đóng góp về giảm nhẹ phát thải KNK trong NDC cập nhật trong trường hợp quốc gia tự thực hiện đã tăng cả về lượng giảm phát thải và tỉ lệ giảm phát thải so với kịch bản phát thải thông thường đến năm 2030.

2. Các chính sách của Nhà nước về giảm phát thải khí CO2 trong bối cảnh mở cửa thương mại

a) Các thỏa thuận quốc tế.

 Việt Nam đã rất nỗ lực ứng phó với BĐKH nói chung và công tác giảm nhẹ phát thải KNK nói riêng thể hiện không chỉ qua các chính sách quốc gia và các hành động cụ thể đã và đang được triển khai trong suốt thời gian qua mà còn tích cực tham gia các cam kết quốc tế. Chính phủ Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều công ước quốc tế về ứng phó với BĐKH trên toàn cầu, cụ thể như sau: (1) Ký Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH vào năm 1992 và phê chuẩn Công ước này vào năm 1994; (2) Ký Nghị định thư Kyoto vào năm 1998 và phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vào năm 2002 và (3) Ký và phê duyệt Thỏa thuận Paris về BĐKH vào năm 2016.

Trong đó, Thỏa thuận Paris về BĐKH được thông qua tại Hội nghị các Bên lần thứ 21 (COP21) là văn bản pháp lý toàn cầu đầu tiên ràng buộc trách nhiệm của tất cả các Bên cam kết thông qua “Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định” (INDC). Như vậy, từ một nước không bị ràng buộc trách nhiệm cắt giảm KNK (không thuộc Phụ lục I của Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH), Việt Nam phải thực hiện nghĩa vụ về đóng góp về giảm nhẹ phát thải KNK đề ra trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định nhằm tận dụng cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp.

Cam kết của Việt Nam tại Hội nghị lần thứ 26 công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26). Cam kết và tham gia cùng cộng đồng quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải cacbon, phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong bối cảnh cộng đồng quốc tế quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số; đồng thời thể hiện quan điểm và chỉ đạo thống nhất của Đảng, của Bộ Chính trị về ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, Việt Nam cam kết sẽ xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính để đạt mức phát thải ròng bằng “0” (gọi tắt là Net Zero) vào năm 2050, giảm 30% lượng phát thải khí metan gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030, tập trung vào 08 nhiệm vụ trọng tâm sau; (i) chuyển đổi từ năng lượng hóa thạch sang các nguồn năng lượng xanh, năng lượng sạch; (ii) giảm phát thải khí nhà kính trong các ngành, lĩnh vực; (iii) giảm phát thải khí metan, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp và xử lý chất thải; (iv) khuyến khích nghiên cứu, phát triển và sử dụng ô tô điện; (v) quản lý và sử dụng bền vững diện tích rừng hiện có, đồng thời đẩy mạnh trồng rừng mới để hấp thụ, lưu giữ cacbon; (vi) nghiên cứu, sản xuất, sử dụng vật liệu xây dựng và phát triển đô thị phù hợp phát triển xanh, bền vững; (vii) đẩy mạnh, đổi mới công tác truyền thông để toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp thống nhất nhận thức và đồng hành cùng Chính phủ trong thực hiện cam kết tại COP26; (viii) đẩy mạnh chuyển đổi số phục vụ ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo đó, định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực chủ yếu, như năng lượng sẽ nâng cao hiệu suất, hiệu quả sử dụng; giảm mức tiêu hao năng lượng trong sản xuất, vận tải, thương mại, công nghiệp. Cùng đó, đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển đồng bộ, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng; chuyển đổi cơ cấu nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc năng lượng hóa thạch, tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng. Các ngành kinh tế, sản xuất xanh sẽ từng bước hạn chế phát sinh chất thải lớn, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; phát triển công nghệ xanh, hệ thống quản lý, kiểm soát hoạt động sản xuất theo kinh nghiệm thực hành tốt để tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, cải thiện môi trường sinh thái.

b) Cơ sở pháp lý

- Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1474/QĐ-TTg, ngày 05 tháng 10 năm 2012 với Mục tiêu “Giảm nhẹ phát thải KNK, phát triển nền kinh tế theo hướng Các-bon thấp” nhằm “thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải KNK đối với các hoạt động sản xuất, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

- Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 22/10/2015 nhằm tăng cường năng lực xây dựng, thực hiện và phổ biến các chính sách, công cụ quản lý nhà nước đối với các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia.

- Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg, ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu;

- Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo Cơ chế phát triển sạch.

- Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/9/2012 về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.

- Nội dung về ứng phó với BĐKH đã được đề cập lần đầu tiên tại Khoản 1 Điều 63 trong Chương III của Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 đã quy định một chương riêng về ứng phó với BĐKH (Chương IV). Nội dung về quản lý phát thải KNK được quy định tại Điểm 1 Điều 41;

- Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH được ban hành vào năm 2008;

- Chiến lược quốc gia về BĐKH được ban hành năm 2011 xác định “ứng phó với BĐKH phải gắn liền với phát triển bền vững, hướng tới nền kinh tế cácbon thấp”.

- Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh, xác định mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK và các giải pháp để thực hiện;

- Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH giai đoạn 2012- 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 1474/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ. “Giảm nhẹ phát thải KNK, phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp” được xác định là 01 trong 05 nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch này;

- Hệ thống quốc gia về kiểm kê KNK được phê duyệt tại Quyết định 2359/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo nền tảng pháp lý và kỹ thuật để triển khai công tác kiểm kê KNK cấp quốc gia. Tuy nhiên, việc triển khai kiểm kê KNK cấp địa phương cần có những điều chỉnh để phù hợp điều kiện thực tế của từng địa phương;

- Quyết định số 985a/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025;

- Năm 2016, Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH được ban hành tại Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể các cam kết của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với BĐKH đồng thời thực hiện các nghĩa vụ đối với Việt Nam tại thỏa thuận Paris, xác định 05 nhóm nhiệm vụ với 2 giai đoạn triển khai cụ thể (2016-2020 và 2021-2030).

- Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới được ban hành trong năm 2012 đã xác định các mục tiêu giảm phát thải KNK cụ thể cho năm 2020 cho từng ngành, lĩnh vực;

- Quyết định 2359/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo nền tảng pháp lý và kỹ thuật để triển khai công tác kiểm kê KNK cấp quốc gia.

- Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH được ban hành tại Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể các cam kết của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với BĐKH đồng thời thực hiện các nghĩa vụ đối với Việt Nam tại thỏa thuận Paris, xác định 05 nhóm nhiệm vụ với 2 giai đoạn triển khai cụ thể (2016-2020 và 2021-2030).

- Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, mục tiêu tăng trưởng xanh góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội; hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa các-bon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Thành phố Hồ Chí Minh, 2017, Báo cáo tổng kết, “Đề xuất khung chính sách kiểm kê khí nhà kính và thực hiện các hành động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện thành phố HCM”
  2. Ban Chỉ đạo thực hiện Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto tại Việt Nam, 2012. Thông tin tóm tắt về cơ chế phát triển sạch và thị trường các-bon quốc tế.
  3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020. Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu.
  4. UNDP, 2018, “Cơ hội và động cơ giảm nhẹ phát thải khí nhà kính lâu dài tại Việt Nam – Đáp ứng mục tiêu cụ thể của thỏa thuận Paris và đảy nhanh tiến độ hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững SDGs”

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202