Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Một số phân tích về các cam kết môi trường của Việt Nam khi tham gia các FTA

Cập nhật lúc: 10/08/2022 04:38:00 PM

Trong các FTA mà Việt Nam đã ký kết trong thời gian hơn 20 năm trở lại đây, có thể chia làm hai loại FTA truyền thống[1] và FTA thế hệ mới[2]. Nội dung liên quan đến các vấn đề môi trường mới chỉ được đề cập mang tính khái quát chung trong các FTA truyền thống. Các FTA thế hệ mới có phạm vi rộng hơn, ngoài các cam kết về thương mại, dịch vụ và đầu tư còn bao gồm các nghĩa vụ mang tính pháp lý cho các lĩnh vực khác như môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ với các mức độ cam kết, ràng buộc khác nhau.

Các FTA thế hệ mới thực sự mà Việt Nam đã đàm phán thành công là CPTPP và EVFTA. Hai Hiệp định này mang tính điển hình đã thể hiện rõ nét nỗ lực chung của các quốc gia thành viên cùng giải quyết những vấn đề về môi trường, BĐKH. Do vậy, phần nghiên cứu dưới sẽ tập trung phân tích về một số nội dung liên quan đến CPTPP và EVFTA đối với các FTA thế hệ mới.

1. Nội dung cam kết về môi trường trong các FTA truyền thống

Các nội dung về môi trường trong các FTA có thể không hoàn toàn nằm trong một chương, một điều khoản, mà nằm rải rác ở trong lời mở đầu hoặc các điều khoản có liên quan đến môi trường. Các cam kết môi trường ở một số FTA truyền thống như:

* Cam kết về môi trường trong ASEAN

-Về thuế quan:

Trong quy định về danh mục loại trừ chung có liên quan đến môi trường được quy định gồm các sản phẩm được xác định là cần thiết để bảo vệ động thực vật, và các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang có nguy cơ cạn kiệt. Về cơ bản, việc loại trừ khỏi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN các sản phẩm này phù hợp với quy định Hiệp định GATT về các ngoại lệ chung, trong đó có ngoại lệ nhằm mục đích bảo vệ môi trường.

- Về các biện pháp phi thuế:

Dịch vụ môi trường đã được đưa vào trong cam kết kể từ khi ký Hiệp định khung về thương mại dịch vụ vào năm 1995. Đối với dịch vụ môi trường, cho đến nay vẫn chưa có được một bước tiến nào đáng kể kể từ khi hình thành hiệp định.

Cho đến nay, ASEAN đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong giải quyết các vấn đề môi trường có liên quan đến thương mại như:

+ Hài hoà tiêu chuẩn đối với dư lượng tối đa của thuốc trừ sâu sử dụng cho rau quả để thúc đẩy buôn bán mặt hàng này trong khu vực và các biện pháp kiểm dịch thực vật

+ Xây dựng Danh mục loại trừ hoàn toàn gồm các mặt hàng có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia cuộc sống và sức khoẻ của con người và động thực vật

+ Quản lý rừng bền vững thông qua công cụ cấp giấy phép lâm nghiệp[3], nâng cao cạnh tranh của hàng hoá ASEAN trong thương mại trong và ngoài ASEAN, hợp tác ASEAN tập trung vào việc hài hoà hoá các tiêu chuẩn hàng hoá lâm sản ASEAN để hỗ trợ quá trình l cấp giấy phép, ngăn chặn việc nhập khẩu gỗ nhiệt đới.

+ Thủy sản bền vững

+ Bảo tồn, khai thác, sử dụng khoáng sản và đẩy mạnh thương mại khoáng sản.

* Cam kết về môi trường trong Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC)

Phát triển bền vững luôn là mục tiêu hàng đầu của APEC, do vậy, trong APEC có rất nhiều chương trình hợp tác liên quan trực tiếp và gián tiếp đến môi trường: Chương trình hợp tác phát triển nghề cá; Bảo tồn và phát triển tài nguyên biển; Phát triển bền vững; Công nghệ sinh học; hàng hóa môi trường, sản xuất sạch hơn, chuỗi cung ứng bền vững, thành phố bền vững…

- Hàng hóa môi trường

APEC hiện là hợp tác quốc tế về kinh tế đầu tiên đạt được thành công về cam kết cắt giảm thuế đối với hàng hóa môi trường. Năm 2012, lãnh đạo của 21 quốc gia APEC đã đồng ý ký vào thỏa thuận cắt giảm thuế nhập khẩu tự nguyện 54 hàng hóa môi trường với thời gian có hiệu lực từ tháng 12 năm 2015.

- Sản xuất sạch hơn

APEC xúc tiến ứng dụng rộng rãi hơn các chính sách và phương pháp liên ngành tiến tới sản xuất sạch hơn thông qua các hợp tác của các lĩnh vực tổ chức, chuyên môn, khu vực công cộng và tư nhân. Để khuyến khích ứng dụng các công nghệ, các chính sách và thực hiện bền vững về môi trường và có hiệu quả về kinh tế, APEC đã nhất trí khuyến khích:

  • Phát triển và sử dụng các công cụ nhằm hỗ trợ thúc đẩy sản xuất sạch hơn;
  • Tham gia và nâng cao chất lượng mạng lưới khoa học, công nghệ và nghiên cứu;
  • Xây dựng và phát triển các năng lực và cơ chế chia sẻ các thông tin kỹ thuật và chính sách về các lĩnh vực như ứng dụng các hệ thống quản lý thân thiện với môi trường bao gồm hệ thống tiêu chuẩn ISO 14000.
  • Phát triển các chỉ số đánh giá tác động với môi trường của các ngành công nghiệp;
  • Truyền bá rộng hơn các dữ liệu điện tử thông qua Trung tâm APEC Virtual nhằm trao đổi công nghệ môi trường và thông qua Trung tâm trao đổi công nghệ của APEC và huấn luyện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Tăng dòng vận động công nghệ trong nội bộ khu vực APEC;
  • Xúc tiến các dự án thí điểm trong các lĩnh vực nhất định.

* Các cam kết về môi trường trong Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu

Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu có nhiều chương trình hợp tác để thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường thông qua các Hội thảo, các chương trình xúc tiến đầu tư, hỗ trợ nâng cao năng lực, thiết lập thể chế về tài chính để hỗ trợ đầu tư về các chủ đề như:

  • Công nghiệp môi trường
  • Công nghệ sạch,
  • Tăng trưởng xanh
  • Các hiệp định song phương về môi trường
  • Tình trạng sa mạc hóa
  • Đa dạng sinh học
  • Biến đổi khí hậu
  • Bảo vệ rừng và phát triển bền vững
  • Quản lý nước bền vững …

* Hiệp định rào cản kỹ thuật liên quan đến thương mại

Hiệp định này có khoảng 11 % có liên quan tới môi trường. Các biện pháp môi trường được thông báo gồm có: các biện pháp hạn chế ô nhiễm, quản lý rác thải, bảo tồn năng lượng, các biện pháp bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các biện pháp thực hiện các Hiệp định đa phương về môi trường. Các vấn đề thương mại - môi trường chủ yếu liên quan tới việc áp dụng các yêu cầu kỹ thuật trong thương mại quốc tế theo Hiệp định này bao gồm:

Nhãn sinh thái: Việc sử dụng các nhãn sinh thái ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp có thể gây trở ngại cho xuất khẩu của các nước đang và kém phát triển. Vấn đề là các chương trình dán nhãn sinh thái thường chỉ dựa vào việc phân tích một số khía cạnh có liên quan tới vòng đời sản phẩm và do đó các nước nhập khẩu thường đưa ra những tiêu chí khác nhau về nhãn sinh thái.

Vấn đề phương pháp sản xuất và chế biến (PPMs): Các nước Thành viên WTO nhất trí rằng các biện pháp nhập khẩu có thể dựa trên phương pháp và quy trình sản xuất nếu phương pháp hoặc quy trình sản xuất đó tạo nên một đặc tính của sản phẩm. Tuy nhiên, các nước đang phát triển phản đối việc áp dụng các biện pháp nhập khẩu dựa trên phương pháp và quy trình sản xuất không liên quan tới sản phẩm cũng như việc sử dụng các tiêu chí một cách “phân biệt đối xử” giữa hai loại PPM này;

Các yêu cầu về bao gói: Một số nước đưa ra yêu cầu về bao gói đối với hàng nhập khẩu, ví dụ: chủng loại bao gói, khả năng sử dụng lại, khả năng tái chế hoặc phân huỷ. Các yêu cầu này tạo thêm chi phí cho các nhà xuất khẩu và có nguy cơ cản trở hàng xuất khẩu tiếp cận thị trường. Trên thực tế, các yêu cầu này có thể được áp dụng một cách “phân biệt đối xử” hoặc bị thao túng bởi các tập đoàn trong nước yêu cầu sự bảo hộ.

2. Nội dung cam kết về môi trường trong hai FTA thế hệ mới CPTPP và EVFTA

1. Hiệp định CPTPP

CPTPP là FTA đa phương đầu tiên đưa các nội dung về môi trường thành một chương trong các cam kết. Nội dung của các cam kết đó chính là để hướng tới việc thúc đẩy sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các chính sách thương mại với môi trường; ủng hộ các quốc gia có các biện pháp phù hợp thúc đẩy hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường, hạn chế khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong khi đẩy mạnh hơn nữa tự do hóa thương mại đối với các hàng hóa và dịch vụ góp hỗ trợ chuyển dịch sang nền kinh tế xanh và nền kinh tế các-bon thấp. Tuy nhiên, các cam kết về môi trường còn khá “rụt rè” và đang lần tìm “những bước đi đầu tiên”. Nội dung các cam kết mới chỉ dừng lại ở chỗ là chỉ ra các vấn đề và kêu gọi các quốc gia cùng hợp tác để cùng giải quyết mà chưa có các cam kết cụ thể như đưa ra các con số cắt giảm thuế quan, số năm mở cửa thị trường và tham gia....

Có thể chia nội dung của các điều khoản về môi trường thành 02 nhóm: (i) Nhóm thứ nhất gồm các hàng hoá, dịch vụ có hỗ trợ, đóng góp cho việc thực hiện tăng trưởng xanh và nền kinh tế các-bon thấp, với các chủ trương về giảm thuế, rào cản thương mại và hợp tác thông qua các dự án song phương và đa phương và thúc đẩy đầu tư giữa các bên nhưngchưa có các cam kết sâu hơn về cắt giảm thuế hay các cam kết khác; (ii) Nhóm thứ hai bao gồm các nội dung về hạn chế ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên do các hoạt động thương mại. Nhóm này tập trung vào đa dạng sinh học, bảo tồn, cơ chế thực thi môi trường tự nguyện, bảo vệ tầng ô zôn, sinh vật ngoại lai. Nội dung chủ yếu là về kêu gọi hợp tác bảo vệ, hạn chế, và một số là ngăn cấm các hoạt động thương mại đối với các hoạt động này.

Có tất cả 30 chương trong Hiệp định CPTPP, trong đó Chương 20 về Môi trường bao gồm 23 điều, có thể chia làm 04 nội dung chính, trong đó, nhóm quan trọng nhất bao gồm các điều khoản riêng về các vấn đề môi trường, bao gồm 11 điều khoản:

  • Hàng hóa và dịch vụ môi trường
  • Các hiệp định môi trường đa phương
  • Bảo vệ tầng ô zôn
  • Bảo vệ môi trường biển từ ô nhiễm do vận tải biển
  • Thương mại và đa dạng sinh học
  • Thương mại và bảo tồn (động thực vật hoang dã)
  • Các loài ngoại lai xâm lấn
  • Chuyển đổi sang nền kinh tế các bon thấp và tự cường
  • Ngành thủy sản đánh bắt cá trên biển
  • Các cơ chế tự nguyện để thúc đẩy thực thi môi trường và
  • Hợp tác trách nhiệm xã hội

2. Hiệp định EVFTA

Hiệp định EVFTA được coi là FTA toàn diện nhất mà Việt Nam tham gia với việc đi xa hơn trong các cam kết về phát triển bền vững trong một FTA. Hai bên đã thống nhất ký kết một chương riêng về phát triển thương mại bền vững, trong đó bao gồm cả các vấn đề về môi trường và lao động. So với CPTPP thì EVFTA có bước tiến xa hơn về các cam kết liên quan đến lao động.

Có tất cả 17 điều trong chương cam kết về thương mại và phát triển bền vững, trong đó nhấn mạnh quyền của mỗi bên trong việc xây dựng hệ thống luật, các quy định tiêu chuẩn để đảm bảo phát triển bền vững. Các nội dung về cam kết môi trường bao gồm:

  • Các cam kết môi trường đa phương: các bên tham gia thực hiện các cam kết trong các Hiệp định môi trường đa phương.
  • Cam kết về biến đổi khí hậu: Các bên khuyến khích việc đối thoại, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm của các bên về các bài học kinh nghiệm và các thực hành tốt trong thiết kế, thực thi và vận hành cơ chế định giá các-bon; thúc đẩy thị trường phát thải các bon quốc tế và nội địa; thúc đẩy hiệu quả năng lượng, công nghệ các bon thấp và năng lượng tái tạo.
  • Cam kết về đa dạng sinh học: khuyến khích thương mại đối với các sản phẩm đóng góp cho việc sự dụng và bảo tồn đa dạng sinh học; chia sẻ nguồn gen, thúc đẩy thực hiện công ước CITES về thương mại quốc tế về các chủng loài động vật và thực vật hoang dã bị đe dọa.
  • Cam kết về quản lý rừng bền vững và thương mại đối với các sản phẩm từ rừng: khuyến khích thương mại đối với các sản phẩm rừng được khai thác và quản lý bền vững; hạn chế và đẩy lùi thương mại đối với các sản phẩm từ rừng được khai thác một cách bất hợp pháp.
  • Cam kết về thương mại đối với quản lý bền vững các nguồn tài nguyên biển và các sản phẩm thủy sản: khai thác nguồn tài nguyên biển một cách bền vững theo Luật Biển của Liên hợp quốc và các bên liên quan khác.
  • Cam kết về thương mại và đầu tư một cách bền vững: các bên sẽ nỗ lực để tạo thuận lợi và thúc đẩy thương mại và đầu tư đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường, đặc biệt là đối với hàng hóa và dịch vụ góp phần giảm thiểu phát thải KNK thông qua hợp tác về chính sách và công nghệ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Bộ Công thương, USAID, 2017, “Các vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế”
  2. Bộ TN&MT, 2020, Báo cáo kỹ thuật đóng góp do quốc gia tự quyết định EU- MUTRAP (Dự án Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của Châu Âu), 2014, Đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU.
  3. Giang, H.T.T., 2021, “Mối quan hệ giữa chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các địa phương Việt Nam”, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, số 228.
  4. Lê Duy Khánh, 2020, “Tác động của độ mở thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu ở các quốc gia đang phát triển”, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.

 


[1] FTA truyền thống thường chỉ bao gồm các cam kết tự do hóa thương mại trong lĩnh vực thương mại hàng hóa (mà quan trọng nhất là xóa bỏ thuế quan đốiv ới khoảng 70-80% số dòng thuế). Một số ít có thêm các cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ (mở cửa thêm các dịch vụ so với mức mở cửa trong WTO) và các nguyên tác chung về đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh…Tuy nhiên những cam kết về các vấn đề này thường là chung chung, ít rang buộc cụ thể ở mức cao.

[2] FTA thế hệ mới bao gồm các cam kết tự do hóa thương mại trong nhiều lĩnh vực (hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường…), trong đó mức độ cam kết mở cửa mạnh (thường là xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 95-100% số dòng thuế, mở cửa mạnh nhiều lĩnh vực dịch vụ, mở cửa mua sắm công)

[3] Là công cụ dựa vào thị trường được sử dụng nhàm thúc đẩy việc quản lý rừng lâu dài thông qua việc khuyến khích mua bán hàng hoá lâm sản được khai thác từ rừng được quản lý

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202