Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Đóng góp của mở cửa thương mại đến phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006-2020

Cập nhật lúc: 31/08/2022 04:39:00 PM

 

Mở cửa thương mại là một chủ trương lớn của Đảng, là nội dung trọng tâm của hội nhập quốc tế và là một bộ phận quan trọng, xuyên suốt của công cuộc đổi mới. Thực hiện theo các chủ trương, định hướng mà Đảng và Chính phủ đặt ra về hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia vào các thiết chế kinh tế đa phương và khu vực. Điều này giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có độ mở thương mại ở mức cao, khi cơ bản định hình mạng lưới gồm 17 FTA và các khuôn khổ hợp tác kinh tế, thương mại với các trung tâm kinh tế hàng đầu. Qua đó khẳng định được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như ghi dấu mốc lịch sử quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở cửa thương mại với các đối tác trên khắp thế giới.

Hình 1. Độ mở thương mại của Việt Nam giai đoạn 2006-2020

Đơn vị: %

Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB)

  1.  Đối với tăng trưởng kinh tế

Kể từ khi mở cửa thương mại, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991 – 1995 – giai đoạn bắt đầu mở cửa thương mại, GDP bình quân một năm đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm. Đặc biệt là sau 15 năm gia nhập WTO năm 2006, Việt Nam đã có một bước tiến dài trên con đường mở cửa thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế. Với 15 FTA đã ký kết, có hiệu lực và 2 FTA đang trong quá trình đàm phán, Việt Nam trở thành một nền kinh tế có độ mở lên tới 200%, là tiền đề giúp nước ta mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới trong nhiều mặt, trong đó nổi bật là phát triển kinh tế.

Hình 2. Tăng trưởng GDP chia theo ngành kinh tế giai đoạn 2006-2020

Đơn vị: %

 

Nguồn: Tổng cục thống kê 2020

Bình quân GDP giai đoạn 2006-2010 đạt mức cao nhất 7%. Tuy nhiên, giai đoạn 2011-2015 tăng trưởng bình quân GDP chỉ đạt 5,91% (không đạt mục tiêu tăng trưởng 7-7,5%) do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu giai đoạn này. Bình quân 4 năm 2016-2020 đạt mức 6,7% (cao hơn tốc độ tăng bình quân 5,91%/năm của giai đoạn 2011-2015), đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 6,5%-7 % của Kế hoạch 5 năm 2016-2020).

Hình 3. Tổng sản phẩm trong nước giá thực tế và tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2020

 

Nguồn: Tổng cục thống kê 2020

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Duy Khánh (2020) về tác động của độ mở thương mại và FDI đến tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Qua biểu đồ có thể nhận thấy, việc mở rộng thương mại giúp kinh tế Việt Nam đạt được sự gia tăng tổng sản phẩm trong nước tương đối ổn định với nhiều năm liên tục. Tốc độ tăng trưởng đạt mức tăng trưởng cao  giai đoạn 2006 - 2020 đạt mức bình quân 6,57%[1]. Đây là con số ở mức cao bởi đây là giai đoạn nền kinh tế thế giới có nhiều biến động như suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008-2012 và khủng hoảng kinh tế do dịch bệnh Covid năm 2019-2021.

Mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được nhận thấy rõ hơn nữa khi so sánh giá trị tổng sản phẩm trong nước và tốc độ tăng trưởng trong các năm 2009, 2012, và 2020. Có thể nhận thấy, giá trị tổng sản phẩm trong nước đều tăng nhưng tốc độ tăng trưởng những năm này lại giảm và thấp hơn những năm khác đặc biệt năm 2020 thấp nhất ở mức 2,9% bởi đây là giai đoạn suy thoái và khủng hoảng kinh tế trầm trọng (như đã nêu ở trên). Khi đã hội nhập sâu rộng và nên kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực từ những cuộc suy thoái toàn cầu khi nhu cầu và sức mua của thị trường thế giới giảm mạnh.

Bên cạnh đó, chất lượng tăng trưởng của Việt Nam cũng dần được cải thiện nhờ vào hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ngày càng tăng từ năm 2006 đến nay

Bảng 1. Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) giai đoạn 2006-2020

Năm

Chỉ số ICOR

2006

4,57

2007

5,36

2008

6,75

2009

7,35

2010

6,38

2011

5,72

2012

6,76

2013

6,67

2014

6,29

2015

5,8

2016

6,42

2017

6,11

2018

5,97

2019

6,08

2020

14,28

 

Nguồn: Tổng cục thống kê 2020

Việc tham gia ký kết các FTA song phương và đa phương đã giúp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư, khắc phục khó khăn cho doanh nghiệp FDI và kiểm soát có hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp này. Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017; 5,97 năm 2018 và 6,08 năm 2019. Bình quân giai đoạn 2016-2019, hệ số ICOR đạt 6,13, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015. Riêng năm 2020, do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế bị đình trệ, các dự án công trình hoàn thành đưa vào sử dụng chưa phát huy được năng lực nên ICOR năm 2020 đạt 14,28; bình quân giai đoạn 2016-2020 hệ số ICOR đạt 7,04.

2.  Đối với năng suất lao động

Quá trình hội nhập quốc tế cũng phần nào tác động tích cực đến năng suất lao động giai đoạn 2006-2020.

Hình 4. Năng suất lao động giai đoạn 2006-2020

Đơn vị: triệu đồng/người

Nguồn: Tổng cục thống kê 2020.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt, cải thiện và thúc đẩy tăng năng suất lao động là yếu tố quyết định tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của từng doanh nghiệp; là vấn đề sống còn đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Qua biểu đồ trên có thể thấy năng suất lao động của Việt Nam tiếp tục cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm.  Bình quân giai đoạn 2016 - 2020 tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). So với nước có mức năng suất dẫn đầu chấu Á là Singapore, khoảng cách về năng suất giữa Singapore và Việt Nam đã giảm rất đáng kể, từ mức 21 lần vào năm 1990 thì khoảng cách hiện tại là 12 lần.

3. Đóng góp vào sự tăng trưởng trong lĩnh vực thương mại

Nhìn lại chặng đường hội nhập từ năm 2006 đến nay, Việt Nam đã có gặt hái được những thành tưu nhất định trong lĩnh vực thương mại. Với chính sách gắn tăng trưởng xuất khẩu với kiểm soát hiệu quả hoạt động nhập khẩu giúp cán cân thương mại chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu.

Hình 5. Giá trị xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2006-2021

Đơn vị: Tỷ USD

Nguồn: Tổng cục Hải quan, Tổng cục thống kê (2022)

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê, nếu như năm 2006 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước chỉ ở mức 84,7 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu là 39,8 tỷ USD và nhập khẩu là 44,9 tỷ USD thì đến năm 2021 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã lên tới 668,5 tỷ USD, tăng 689,3% so với năm 2006; trong đó với tổng kim ngạch xuất khẩu lên tới 336,3 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 332,2 tỷ USD.

Riêng năm 2020, là năm thế giới chứng kiến những biến động nhanh, phức tạp và khó đoán từ xung đột thương mại Mỹ-Trung, biến động về quan hệ kinh tế – chính trị giữa các nền kinh tế lớn và đặc biệt là ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 đến mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội nhưng xuất nhập khẩu Việt Nam lại có một năm đầy ấn tượng với giá trị xuất siêu lớn nhất từ trước đến nay đạt 19,9 tỷ USD. Tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa cả nước tăng 1% trong khi đó tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa cả nước tăng 6% so với năm 2019. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước chỉ ở mức 545,3 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu là 282,6 tỷ USD và nhập khẩu là 262,6 tỷ USD.

----------------------------------------

 

  1. Lê, T.T., Nguyễn, Đ.K., 2017, “Đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế và thương mại quốc tế đến phát thải CO2 ở Việt Nam- Tiếp cận qua mô hình ARDL”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, số 238, pp.30-40.
  2. Nguyễn Cảnh Nam, 2019, “Phát thải CO2 từ tiêu dùng năng lượng: Nhìn và suy ngẫm từ mọi góc độ, Tạp chí Năng lượng Việt Nam.
  3. Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2018, “Tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân,
  4. Chen, F.; Jiang, G.; Kitila, G.M. 2021, Trade Openness and CO2 Emissions: The Heterogeneous and Mediating Effects for the Belt and Road Countries. Sustainability, 13, 1958.
  5. Galeotti, M., A. Lanza, and F. Pauli, Reassessing the environmental Kuznets curve for CO2 emissions: A robustness exercise. Ecological Economics, 2006. 57(1): pp. 152-163.

 

 

 


[1] Tính toán của nhóm nghiên cứu dựa vào các con số tăng trưởng bình quân qua các giai đoạn 2006-2010, 2011-2015, 2016-2020 đã nêu ở trênsss

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202