Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Tình hình phát thải khí CO2 ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm giảm phát thải CO2 trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Cập nhật lúc: 19/08/2022 04:39:00 PM

1. Tình hình phát thải khí CO2 ở Việt Nam

Việc tham gia vào thị trường quốc tế thông qua các FTA song phương và đa phương góp phần giúp Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong việc phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cao cũng khiến Việt Nam phát thải một lượng không nhỏ khí CO2 vào khí quyển.

Bảng 1. Phát thải KNK các năm 2000, 2010, 2013, 2014 và 2020

Đơn vị: triệu tấn CO2e 

Lĩnh vực

Năm 2000

Năm 2010

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2020

Năng lượng

52,8

141,1

151,4

171,62

347,5

Các quá trình công nghiệp

10,0

21,2

31,8

38,62

80,5

Nông nghiệp

65,1

88,3

89,4

89,75

104,5

LULUCF

15,1

-19,2

-34,2

-37,54

-35,4

Chất thải

7,9

15,4

20,7

21,54

31,3

Tổng

150,9

246,8

259,0

321,5

563,8

 

Nguồn: Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Hoàng Nam (2021)

Trong giai đoạn 2000-2010, tốc độ gia tăng phát thải CO2 là 63% từ mức 150,9 triệu tấn năm 2000 lên mức 246,8 triệu tấn năm 2010. Tuy nhiên, mức phát thải CO2 giai đoạn 2010-2020 cao gấp hai lần so với tốc độ tăng thập niên trước. Cụ thể, tốc độ gia tăng phát thải CO2 đạt mức 128,4% khi tăng từ mức 246,8 triệu tấn năm 2010 lên mức 563,8 triệu tấn năm 2020. Giai đoạn 2010-2020 là giai đoạn Việt Nam mở cửa thương mại sâu rộng lên mức 200% với việc ký kết thành công các FTA song phương và đa phương quan trọng. Điều này góp phần tăng trưởng GDP cũng như các phát triển mạnh trong các lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ môi trường không được chú trọng do đẩy mạnh phát triển công nghiêp hóa khiến lượng phát thải CO2 đã gia tăng với tốc độ cao.

Năm 2020, trong các lĩnh vực có phát thải KNK, tỷ lệ phát thải KNK ngành năng lượng (bao gồm hoạt động giao thông vận tải) là lớn nhất, chiếm 62%; tiếp theo là ngành nông nghiệp chiếm 18%; quá trình công nghiệp và tiêu thụ sản phẩm chiếm 14% và chất thải chiếm 5% (MPI, UNDP, USAID 2022). Bảng trên thể hiện lượng phát thải/ hấp thụ KNK theo lĩnh vực trong giai đoạn 2000-2020. Theo đó, tổng lượng KNK (bao gồm lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp) đã tăng hơn gấp 3,7 lần, từ 150,9 triệu tấn CO2 tương đương (CO2e) lên 563,8 triệu tấn CO2e. Trong đó, lượng khí thải trong lĩnh vực năng lượng có lượng tăng đáng kể, gấp khoảng 6.5 lần so với năm 2000 do nhu cầu về năng lượng tăng nhanh.

(1) Năng lượng

Trong lĩnh vực năng lượng tại Việt Nam, KNK chủ yếu được phát thải từ quá trình đốt nhiên liệu và phát tán trong quá trình khai thác, vận chuyển nhiên liệu. Lượng phát thải tăng nhanh qua các năm, tăng từ 121,9 triệu tấn CO2e (năm 2010) lên 347,5 triệu tấn CO2e (năm 2020). Theo đó, trong giai đoạn 2010 – 2020, phát thải CO2 đã tăng hơn 2,8 lần. Nguyên nhân chính của sự tăng mạnh này là do sự tăng cao trong mức tiêu dùng năng lượng sơ cấp (Nguyễn Cảnh Nam 2019).

Bảng 2. Phát thải KNK theo nguồn phát thải ngành năng lượng năm 2014 và 2020

 

Lượng phát thải

(Đơn vị: Triệu tấn)

Tỷ lệ so với tổng lượng phát thải ngành (%)

Nguồn

2014

2020

2014

2020

Công nghiệp sản xuất và xây dựng

49,4

72,0

28,8

20,7

Giao thông vận tải

30,5

47,0

17,8

13,5

Gia dụng, nông nghiệp và dịch vụ thương mại

16,3

21,0

9,5

6,0

Công nghiệp năng lượng

75,4

207,5

43,9

59,7

Tổng

171,6

347,5

 -

Nguồn: Bộ TN&MT (2020)

Tổng lượng KNK phát thải trong ngành năng lượng năm 2020 tăng gấp đôi lên mức 347,5 triệu tấn CO2e từ mức 171,6 triệu tấn CO2e năm 2014. Trong đó, công nghiệp năng lượng chiếm thị phần lớn nhất với 43,9% năm 2014 và tiếp tục là ngành phát thải cao nhất với tỷ lệ 59,7% năm 2020. Nguyên nhân chính là do ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng hóa thạch.

 (2) Quá trình và các sản phẩm công nghiệp

Đối với quá trình và sản phẩm công nghiệp, các loại hình sản xuất công nghiệp chính sinh ra KNK là sản xuất xi măng, sản xuất vôi, sản xuất amoni và sản xuất sắt thép. Tổng lượng KNK phát thải trong sản xuất công nghiệp năm 2020 tăng mạnh lên mức 80,5 triệu tấn CO2e từ mức 38,6 triệu tấn CO2e năm 2014. Trong đó, công nghiệp khai khoáng chiếm thị phần lớn nhất, chiếm 35,2% năm 2014 và 53,1 năm 2020. Nguyên nhân là do việc nung nóng đá vôi tạo ra CO2 trực tiếp, trong khi đó việc đốt nhiên liệu hóa thạch để làm nóng lò nung gián tiếp dẫn đến khí thải CO2. Đây là ngành sử dụng rất nhiều năng lượng và tạo ra nhiều khí thải do đòi hỏi nhiệt độ cực cao.

Bảng 3. Phát thải KNK theo nguồn phát thải ngành công nghiệp năm 2014 và 2020

 

Lượng phát thải

(Đơn vị: Triệu tấn)

Tỷ lệ so với tổng lượng phát thải ngành (%)

Nguồn

2014

2020

2014

2020

Công nghiệp khai khoáng

35,20

53,10

91,19

65,96

Công nghiệp hóa chất

1,70

3,20

4,40

3,97

Công nghiệp luyện kim

1,70

24,20

4,40

30,06

Tổng

38,60

80,50

 -

Nguồn: Bộ TN&MT (2020)

(3) Nông nghiệp

Theo kết quả kiểm kê KNK năm 2014 của Bộ TN&MT, lượng KNK phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp là 89,75 triệu tấn CO2e, chiếm 28% tổng lượng KNK phát thải của cả nước. Đến năm 2020, lượng KNK phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp là 104,5 triệu tấn CO2e, chiếm 32,5% tổng lượng KNK phát thải. Trong đó, ngành Canh tác lúa và Đất nông nghiệp phát thải nhiều nhất, chiếm tương ứng 40% và gần 28% tổng lượng phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp năm 2020 (Bảng 5). Trồng lúa là ngành đóng góp lớn nhất vào tổng lượng KNK phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp do đây là ngành phát thải lượng lớn khí mê-tan (CH4) và ô xít ni-tơ (N2O).

Bảng 4.  Phát thải KNK theo nguồn phát thải ngành nông nghiệp

năm 2014 và 2020

 

Lượng phát thải

(Đơn vị: Triệu tấn)

Tỷ lệ so với tổng lượng phát thải ngành (%)

Nguồn

2014

2020

2014

2020

 

Tiêu hóa thức ăn

10,2

18,8

11,4

18,0

 

Quản lý chất thải

8,9

12,1

9,9

11,6

 

Canh tác lúa

44,3

41,9

49,3

40,1

 

Đất nông nghiệp

24,0

29,3

26,7

28,0

 

Đốt đồng cỏ

0,0

0,0

0,0

0,0

 

Đốt phụ phẩm nông nghiệp ngoài đồng

2,4

2,4

2,7

2,3

 

Tổng

89,80

104,50

 

 

 

             

Nguồn: Bộ TN&MT (2020)

(4) Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp

Lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp đã bắt đầu chuyển dần từ việc phát thải KNK sang hấp thụ KNK từ năm 2010. KNK phát thải trong lĩnh vực này tăng lên 110,7 triệu tấn CO2e năm 2020 từ mức 5,4 triệu tấn CO2e năm 2014. Trong khi lượng hấp thụ KNK tăng từ 42,9 triệu tấn CO2e vào năm 2014 lên mức 146,1 triệu tấn CO2 năm 2020. Trong đó, đất rừng và đất trồng trọt là nguồn hấp thụ CO2e lớn nhất (MONRE 2017).

Bảng 5. Phát thải KNK theo nguồn phát thải lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp năm 2014 và 2020

Đơn vị: Triệu tấn

Nguồn phát thải/Hấp thụ

2014

2020

Hấp thụ

-42.9

-146.1

Phát thải

5.4

110.7

Tổng

-37.5

-35.4

Nguồn: Bộ TN&MT (2020)

(5) Chất thải

 Tại Việt Nam, những năm gần đây mỗi năm có khoảng trên 15 triệu tấn chất thải rắn được thải ra từ các nguồn khác nhau. Tuy nhiên, mới chỉ có trên 70% chất thải rắn ở khu vực đô thị và khoảng 20% ở khu vực nông thôn được thu gom và xử lý. Trong khi phát thải KNK của lĩnh vực này chủ yếu bao gồm: phát thải CH4 từ các bãi chôn lấp chất thải rắn được thu gom; từ nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt; phát thải N2O từ bùn cống nước thải sinh hoạt; phát thải CO2 và N2O từ quá trình đốt chất thải. Nhìn chung, phát thải từ lĩnh vực chất thải chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Tổng lượng phát thải KNK của lĩnh vực này năm 2014 là 21,5 triệu tấn CO2e (chiếm 6,6% tổng lượng phát thải cả nước) tăng lên 31,3 triệu tấn CO2e năm 2020 chiếm 5,5% trong cơ cấu tổng phát thải quốc gia. Trong đó, nước thải đô thị có thị phần phát thải KNK lớn nhất, chiếm 44,7% năm 2014 và Chôn lấp chất thải rắn chiếm tỷ lệ phát thải KNK là 38% lớn nhất năm 2020.

Bảng 6. Phát thải KNK theo nguồn phát thải ngành chất thải năm 2014 và 2020

 

Lượng phát thải

(Đơn vị: Triệu tấn)

Tỷ lệ so với tổng lượng phát thải ngành (%)

Nguồn

2014

2020

2014

2020

Chôn lấp chất thải rắn

8,0

11,9

37,2

38,0

Xử lý nước thải công nghiệp

1,6

4,4

7,4

14,1

Xử lý nước thải sinh hoạt

9,6

10,6

44,7

33,9

Phát thải từ chất thải con người

2,0

2,4

9,3

7,7

Đốt chất thải rắn

0,3

1,8

1,4

5,8

Composting

N/A

0,2

N/A

0,6

Tổng

21,5

31,3

-

-

Nguồn: Bộ TN&MT (2020)

2.Một số kiến nghị nhằm giảm phát thải CO2 trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trong hơn 30 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kể về kinh tế - xã hội, các ngành kinh tế và lĩnh vực đều phát triển khá,
thậm chí đạt được những bước chuyển mình quan trọng. Tuy nhiên, tốc độ tăng
trưởng kinh tế dần chững lại, chất lượng tăng trưởng thấp cùng với nền sản xuất thâm dụng năng lượng, suy thoái tài nguyên thiên nhiên do khai thác quá mức. Công nghệ trong nền kinh tế lạc hậu và sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch như than đá gây ra ô nhiễm môi trường và phát thải khí CO2. Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề từ BĐKH, Việt Nam đã nhận ra sự cần thiết của mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững và đặt ra mục tiêu giảm phát thải CO2 nhằm ứng phó với BĐKH trong thời gian tới nhất là khi Việt Nam đã và đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.

Để thực hiện được mục tiêu giảm phát thải CO2 và khắc phục những hậu quả của tình trạng ô nhiễm môi trường bởi gia tăng khí thải CO2, hướng tới tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững; nhóm nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị và giải pháp gồm:

1. Hoàn thiện quy định pháp luật

  • Xây dựng và hoàn thiện các quy định về xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhạy cảm với môi trường, đặc biệt hàng hóa, dịch vụ phát thải nhiều CO2

Việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường đối với hàng nhập khẩu sẽ đạt được nhiều mục tiêu: bảo vệ môi trường, bảo hộ sản xuất, tăng thu ngân sách nhà nước… điều này không trái với nguyên tắc của WTO, có thể thử nghiệm đấu giá các giấy phép nhập khẩu đối với những hàng hoá gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái. Đây là chính sách cần thiết có tác động điều chỉnh trực tiếp đối với các sản phẩm gây hại đến môi trường, phát thải các chất gây hiệu ứng nhà kính. Không cấp phép đầu tư cho các dự án, các loại hình sản xuất ô nhiễm, công nghệ sản xuất lạc hậu, nhất là dự án tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường.

Thực hiện việc rà soát, tập hợp các cam kết và chiến lược về chống BĐKH vào một khung pháp lý hoàn chỉnh, xây dựng Luật Biến đổi khí hậu, tạo hành lang pháp lý cần thiết để ban hành các quy định về thị trường mua bán phát thải tại Việt Nam. Song song với đó, xây dựng một cơ quan chuyên trách có đầy đủ quyền hành để điều tiết thị trường một cách minh bạch, linh hoạt, tránh sự chồng chéo giữa trách nhiệm của các Bộ, Ngành.

Cần có sự tính toán và thống kê toàn diện đối với những sản phẩm/ hàng hóa có mức tác động đến môi trường hoặc những sản phẩm/ hàng hóa có gây ô nhiễm ở hiện tại nhưng chưa có sản phẩm thay thế để đưa ra mức thuế hợp lý, đảm bảo tính cạnh tranh, tính ổn định cho các mặt hàng này. Trong ngắn hạn, có thể áp dụng thuế suất 0% hoặc có các chính sách ưu đãi, giảm thuế, miễn thuế để tạo lộ trình thích hợp, giúp đối tượng nộp thuế thích ứng dần dần với loại thuế này. Cần bổ sung thêm các loại sản phẩm, hàng hóa khi dùng sẽ gây ra ô nhiễm môi trường. Đồng thời, xây dựng lộ trình hợp lý trong việc mở rộng đối tượng chịu thuế cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế nước nhà và khả năng tài chính của đối tượng nộp thuế.

Cần nắm bắt những cơ hội liên quan đến tham gia các FTA và các chuỗi giá trị toàn cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh trong tất cả các sản phẩm xuất khẩu của mình. Các hiệp định như Hiệp định EVFTA, Hiệp định CPTPP có các cam kết về môi trường của tất cả các thành viên về thông lệ giao thương các mặt hàng xuất khẩu.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các quy định về pháp luật liên quan đến phát thải khí CO2. Cụ thể:

Thứ nhất, mặc dù không ngừng được hoàn thiện nhưng luật bảo vệ môi trường không tránh khỏi còn tồn tại những thiếu sót và hạn chế. Chẳng hạn, trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ (QCVN 19:2009/BTNMT), Chất lượng không khí – Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ (TCVN 5940:2005) và gần nhất là Quy chuẩn kỹ thuật về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ trên địa bàn thủ đô Hà Nội (QCTĐHN 01:2014/BTNMT) hiện chưa có bất cứ tiêu chuẩn kỹ thuật đo lường nào được áp dụng cho khí thải CO2. Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất chính phủ và các cơ quan ban hành luật cần tiến hành rà soát lại các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, sửa đổi, bổ sung liên tục để xây dựng các quy chuẩn và chế tài phù hợp hơn với tình hình thực tế (ví dụ như bổ sung quy chuẩn kỹ thuật với lượng khí thải CO2 trên tổng lượng khí thải nhất định), tránh hiện tượng thiếu sót, chồng chéo, mâu thuẫn trong thực hiện.

Thứ hai, Chính phủ cần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường thông qua việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý môi trường và giữa cơ quan quản lý môi trường với chính quyền địa phương trong công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm; thống nhất trong việc chia sẻ, tổng hợp thông tin và số liệu môi trường nhằm tăng cường năng lực cho hệ thống quốc gia kiểm kê KNK; kết nối về hệ thống quan trắc môi trường.

Thứ ba, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, cơ sở
công nghiệp tránh xa các vùng sinh thái nhạy cảm và khu đô thị. Chính quyền địa
phương cần lập phương án di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng tới
môi trường ra khỏi khu dân cư và tái tập trung thành những cụm công nghiệp nhỏ
theo quy hoạch. Các cụm công nghiệp quy hoạch mới này, cần có quy trình quản lý môi trường cụ thể: bắt buộc xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải tập trung
hoàn chỉnh mới được phép hoạt động; kiểm soát các công nghệ sản xuất được áp dụng, các cơ sở sử dụng công nghệ lạc hậu phát thải nhiều khí CO2 và chất thải độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép sẽ bị rút giấy phép hoạt động; đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về môi trường tại cụm công nghiệp.

  • Áp dụng cơ chế hệ thống giao dịch khí phát thải (Emission Trading System-ETS)

Việt Nam cần hướng đến việc đề xuất hệ thống các công cụ kinh tế, cơ chế dựa vào thị trường cho bảo vệ môi trường và tìm ra những biện pháp để khắc khục hậu quả. Những thông tin mới nhất về các chính sách, cơ chế, chương trình có liên quan như ETS, thị trường carbon trong nước và thế giới, các dự án giảm phát thải cấp quốc gia và quốc tế cần tiếp tục được cập nhật và nghiên cứu. Đồng thời, đề xuất lộ trình tái cấu trúc, giải pháp để phát huy vai trò của hệ thống các công cụ kinh tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để sẵn sàng đáp ứng ác yêu cầu của thị trường trong tình hình mới, đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện các cam kết quốc tế về BĐKH. Chủ động tham gia các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải KNK, thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.

Để tạo điều kiện cho thị trường được hoạt động một cách hiệu quả, Chính phủ cần xây dựng một hệ thống dữ liệu về phát thải của các ngành sản xuất trong nước dựa trên kinh nghiệm từ các thị trường mua bán phát thải như của EU, từ đó xác định hình thức thị trường, phạm vi thị trường, ngành sản xuất, loại khí nhà kính, tổng mức tín chỉ phát thải miễn phí cần thiết… Cơ chế điều chỉnh hạn mức giảm phát thải cũng cần được luật hóa để tạo điều kiện cho cơ quan quản lý điều tiết thị trường một cách linh hoạt, tránh các rủi ro giảm mạnh giá cacbon đã từng gặp phải ở EU-ETS, cũng như định hướng một chính sách kiểm soát việc rò rỉ cacbon từ các ngành sản xuất khi thị trường này chính thức đi vào hoạt động.

  • Vận hành theo hướng thuế các-bon và mô hình “cap và trade”

Việc áp dụng thuế các–bon trong giai đoạn đầu sẽ đảm bảo giá phát thải các-bon trên thị trường ổn định và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động từ kinh tế vĩ mô như các cú sốc kinh tế hay các yếu tố ảnh hưởng khác làm giảm nhu cầu về phát thỉa trên thị trường, theo đó sẽ tránh được nguy cơ giá phát thải các-bon sụt giảm về mức gần như bằng không như trường hợp của EU-ETS trong giai đoạn đầu, làm suy giảm hiệu quả sử dụng công cụ này. Ngoài ra việc áp thuế các-bon trong giai đoạn đầu sẽ đảm bảo tránh được các trường hợp doanh nghiệp gian lận do hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định của Việt Nam, nâng cấp trước khi vận hành chính thức ETS chuyển qua giai đoạn “cap và trade”. Việc áp dụng thuế các-bon có thể xem xét áp dụng trong thời gian ngắn để xem xét mức độ ảnh hưởng và điều chỉnh mức thuế phù hợp.

  • Áp dụng thuế bảo vệ môi trường

Thuế bảo vệ môi trường có thể áp dụng đối với việc sản xuất và nhập khẩu một số hàng hóa được xem như là có hại với môi trường, đặc biệt là dầu hỏa và than đá. Cụ thể:

+ Áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt thấp với các sản phẩm tiết kiệm năng lượng
(thiết bị điện hiệu suất cao), các sản phẩm sinh học trong lĩnh vực năng lượng

+ Miễn giảm thuế nhập khẩu đối với các doanh nghiệp nhập khẩu trang thiết
bị máy móc để thực hiện các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật mới tiêu hao ít nguyên nhiên liệu, tạo ra ít chất thải. Miễn giảm, tiến tới miễn thuế nhập khẩu các trang thiết bị đo lường các thông số môi trường có liên quan đến quy trình sản xuất và sản phẩm.

+ Tăng thuế đánh vào các nguồn phát thải KNK (như COx, SOx, NOx, CFCs...).

+ Tăng thuế đánh vào sản phẩm gây tác hại tới môi trường trong quá trình sản xuất, tiêu dùng hay quá trình huỷ bỏ. Loại thuế này thường được áp dụng đối với các sản phẩm chứa chất độc hại cho môi trường như kim loại nặng, các nguyên liệu chứa carbon và sulphat, pin chứa thuỷ ngân, các loại vỏ nhựa.

  • Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng đến net zero

Chính phủ có vai trò hỗ trợ, thiết lập chính sách và môi trường pháp lý để đạt được net zero. Chia sẻ chi phí, nghiên cứu và phát triển, đổi mới, chuỗi cung ứng và điều phối quá trình chuyển đổi toàn cầu net zero. Doanh nghiệp có vai trò thúc đẩy các doanh nghiệp sớm cam kết sẽ hưởng lợi thế người tiên phong, định vị thương hiệu trước xu hướng thay đổi của người tiêu dùng, công nghệ mới và thị trường mới. Các doanh nghiệp nên tập trung thực hiện các cam kết minh bạch và rõ ràng đối với cam kết của tổ chức đối với mục tiêu net zero.

Xây dựng lộ trình từng bước hình thành và phát triển thị trường các-bon trong nước, bao gồm việc áp dụng công cụ thị trường, hệ thống cơ sở dữ liệu về phát thải khí nhà kính;

Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các cơ chế tạo tín chỉ các-bon thông qua việc rà soát và đề xuất một số chính sách, công cụ quản lý nhà nước để hình thành và vận hành thị trường các-bon trong nước;

Nâng cao nhận thức, kiến thức cho các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến thị trường các-bon và các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường các-bon;

- Đẩy mạnh cơ chế phát triển sạch CDM

 Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh cơ chế phát triển nhiều dự án CDM và thiết lập khung quản lý nhà nước. Nghiên cứu, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài vào dự án CDM tại Việt Nam và tạo hành lang pháp lý thuận lợi, khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp xây dựng và thực hiện dự án CDM. Xây dựng và thực hiện các chương trình tuyên truyền, phổ biến thông tin nhằm nâng cao nhận thực cộng đồng về CDM cũng như tăng cường năng lực cho các cơ quan, đơn vị, khối doanh nghiệp ở trung ương và địa phương có tiềm năng tham gia các hoạt động CDM. Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế về tài chính, chuyển giao công nghệ, kinh nghiêm, tăng cường năng lực để xây dựng, thực hiện dự án CDM.

Trong thời gian tới, Các Bộ, ngành, địa phương cần lồng ghép vấn đề phát triển sạch vào chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển của mình. Nhà nước cần quyết tâm cao trong thực hiện chính sách môi trường gắn với phát triển kinh tế-xã hội đất nước nói chung và ở địa phương nói riêng, đặc biệt cần cung cấp thông tin cho người dân, cho cộng đồng doanh nghiệp và coi hạn chế phát thải gây hiệu ứng nhà kính là một nội dung hết sức quan trọng trong đối phó với biến đổi khí hậu cũng như bảo vệ môi trường. Có cơ chế hợp tác nhà nước-tư nhân nhằm chia sẻ rủi ro trong quá trình xây dựng và phê duyệt dự án CDM với doanh nghiệp.

  • Hạn chế các ngành định hướng xuất khẩu gây tổn hại môi trường.

           Việc các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa góp phần nâng tầm của doanh nghiệp nội địa và có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, phương thức tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của một số ngành Việt Nam đã và đang gây ra ảnh hưởng đến môi trường. Do vậy, cần hạn chế một số ngành lĩnh vực xuất khẩu có tính chất thâm dụng tài nguyên và để lại nhiều chất thải các-bon, góp phần làm tăng tổn hại môi trường và cạn kiệt nguồn tài nguyên của quốc gia.

           Cần có chính sách cụ thể một số ngành khi sản xuất tạo ra lượng khí thải lớn, nên định hướng chuyển dịch lợi thế so sánh xuất khẩu sang các lĩnh vực áp dụng kỹ thuật sản xuất sạch hơn trong hoạt động xuất khẩu; thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển xuất khẩu bền vững.

Cải thiện các chính sách nhằm thúc đẩy thương mại hàng hóa và dịch vụ môi trường cần được bổ sung bằng các hoạt động trong nước nhằm tăng cường năng lực sản xuất trong nước, nâng cao giá trị gia tăng trong nước cho hàng hóa môi trường, và hội nhập với các chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất trong khu vực.

Cần chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho các ngành kinh tế thân thiện với môi trường, phát thải cac-bon thấp, hạn chế phát triển các nhóm ngành tiềm ẩn nguy cơ cao gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, tiêu hao nhiều năng lượng; từng bước xây dựng hạ tầng, môi trường pháp lý thuận lợi cho nền kinh tế tăng trưởng xanh.

Nghiên cứu, xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí kinh tế tăng trưởng xanh; ban hành các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ khu vực kinh tế tăng trưởng xanh phát triển.

2. Tăng cường, đẩy mạnh cơ chế, chính sách ưu đãi đối với các chủ thể có liên quan

  • Khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ cao và công nghệ xanh

Trong bối cảnh hội nhập và tự do hóa thương mại toàn cầu đã tạo ra sức ép cạnh tranh, buộc doanh nghiệp không ngừng đổi mới công nghệ. Nhưng tại Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ tiềm lực để mua máy móc, thiết bị đắt tiền, hiện đại mà chỉ có thể nhập máy móc cũ từ các nước phát triển hoặc những máy mới nhưng rẻ tiền, với công nghệ không tối ưu. Việc sử dụng các thiết bị lạc hậu trong sản xuất dẫn đến hiệu quả sử dụng năng lượng thấp hơn sinh ra nước thải, khí thải do tiêu hao năng lượng, gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, cần khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị có công nghệ tiên tiến (kết hợp xem xét với yêu cầu của công nghệ xanh). Hạn chế nhập khẩu thiết bị, công nghệ trung gian. Đây là một chính sách quan trọng, nhằm ngăn chặn dòng thương mại và thiết bị – công nghệ cũ và lạc hậu đổ vào nước ta và theo đó là sự tiêu tốn tài nguyên, phát thải các chất độc làm tổn hại đến môi trường sinh thái.

Chính phủ cần xây dựng chính sách hỗ trợ về vốn, xúc tiến hoạt động thương mại, cung cấp thông tin, đào tạo đội ngũ cán bộ cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tiếp cận các công nghệ mới

Khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu trang thiết bị máy móc để thực hiện các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật mới tiêu hao ít nguyên nhiên liệu, tạo ra ít chất thải.

Hỗ trợ tư vấn kỹ thuật về môi trường và nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế cho doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phẩn kinh tế.

- Tăng cường chính sách FDI gắn với tăng trưởng xanh

Thu hút vốn FDI trong giai đoạn mới đòi hỏi phải có định hướng, chính sách để thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái.

Chính phủ và chính quyền các tỉnh/địa phương cần có chính sách phù hợp thận trọng khi lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài, cũng như đánh giá đầy đủ các tác động đến môi trường của các dự án FDI cả trước, trong và sau quá trình đầu tư, ưu tiên thu hút dự án FDI ít phát thải KNK và có trách nhiệm xã hội cao trong việc bảo vệ và tuân thủ luật pháp liên quan đến môi trường.

Chính phủ cần kiên quyết không cho phép các tỉnh, thành phố tiếp nhận các dự án FDI mới vào những ngành công nghiệp tiêu hao nhiều năng lượng, gây hiệu ứng nhà kính, không thân thiện với môi trường như: Xi măng, sắt thép, lọc hóa dầu; hạn chế thu hút FDI vào điện than, dệt nhuộm với yêu cầu khắt khe về công nghệ, bắt buộc đầu tư tới hệ thống xử lý nước thải và chất thải rắn, thành lập các khu chuyên biệt về dệt nhuộm và may mặc để vừa tạo ra chuỗi cung ứng dệt-nhuộm-may mặc có hiệu quả kinh tế cao, vừa bảo đảm yêu cầu về môi trường và khí thải.

Đối với các dự án FDI trong các ngành và lĩnh vực vẫn tiếp tục được khuyến khích thì cần quan tâm đến công nghệ tiên tiến, tiết giảm năng lượng, thân thiện với môi trường, giám sát chặt chẽ trong quá trình xây dựng nhà máy, công trình kiến trúc để góp phần tạo ra nền kinh tế xanh.

Chính phủ cũng cần có chính sách ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp FDI đang sử dụng công nghệ lạc hậu, không thân thiện với môi trường chuyển đổi công nghệ đáp ứng tiêu chuẩn nền kinh tế xanh; định ra một thời hạn để các doanh nghiệp thực hiện.

  • Đẩy mạnh giao thông công cộng

Phát triển hệ thống giao thông công cộng như xe buýt, tàu điện sẽ giúp giảm
lượng phương tiện cá nhân tham gia giao thông, góp phần giảm lượng khí thải CO2 ra môi trường. Hiện tại, với cơ sở hạ tầng của Việt Nam, phương tiện giao thông công cộng phổ biến nhất tại các thành phố lớn là xe buýt. Nhưng trên thực tế, lượng người sử dụng xe buýt vẫn còn rất hạn chế, người dân vẫn duy trì thói quen sử dụng phương tiện cá nhân, do các phương tiện công cộng như xe buýt còn chưa phục vụ được nhu cầu di chuyển của người dân, thậm chí còn trong tình trạng quá tải tại các thành phố lớn, các bến xe buýt bố trí chưa hợp lý, tần suất các chuyến xe còn ít dẫn tới việc di chuyển bằng xe buýt tốn nhiều thời gian hơn so với sử dụng các phương tiện cá nhân. Do đó, để cải thiện hiệu quả của các phương tiện giao thông công cộng, cần phải xây dựng các tuyến xe phù hợp, thuận tiện hơn, sử dụng các hình thức trợ giá nhằm khuyến khích người dân sử dụng xe buýt, và sắp tới là tàu điện.

Chính phủ cũng nên khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia tích cực hơn vào lĩnh vực giao thông công cộng, nhằm giải quyết sớm nạn ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực giao thông vận tải trong khi nguồn vốn đầu tư từ chính phủ còn hạn hẹp và thời gian giải ngân chậm.

  • Tăng cường đầu tư khoa học công nghệ
  1. Trong lĩnh vực năng lượng

Phần lớn lượng khí thải CO2 thống kê được bắt nguồn từ lĩnh vực năng lượng, do đó giảm thiểu lượng phát thải CO2 trong các ngành công nghiệp năng lượng nên trở thành ưu tiên lớn nhất.

Thứ nhất, tập trung phát triển công nghệ năng lượng có khả năng thay thế các
nhà máy nhiệt điện chạy than và dầu đang hoạt động với chi phí cao và gây ô nhiễm môi trường như năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, bao gồm: (i) Xây dựng các nhà máy điện gió tại các khu ven biển để đáp ứng nhu cầu năng lượng tại chỗ cho các khu vực này; (ii) Đánh giá khả năng thực tiễn của điện hạt nhân để sớm giải quyết nhu cầu năng lượng điện ngày càng tăng trong nước; (iii) Phát triển nhiệt điện sinh khối, (iv) Phát triển các dự án thủy điện nhỏ.

Thứ hai, khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm tiết
năng lượng (ví dụ: đèn Compaq tiết kiệm điện, điều hòa hiệu suất cao), siết chặt hoạt động dán nhãn năng lượng cho các sản phẩm lưu thông ngoài thị trường để
cung cấp thông tin chính xác cho người tiêu dùng.

Thứ ba, phát triển các phương tiện sử dụng xăng sinh học và phương tiện vận
hành bằng điện năng. Phương án sử dụng ethanol thay xăng trong giao thông vận tải bắt đầu được áp dụng một số mô hình thí điểm nhưng chưa thực sự phổ biến.
Nguyên nhân đến từ việc các điểm bán xăng ethanol còn quá ít, chỉ 3/10 doanh
nghiệp xăng dầu phân phối xăng ethanol với 169/13.000 cây xăng cung cấp dịch vụ xăng sinh học.

  1. Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp

Cải tiến phương thức canh tác nông nghiệp giúp giảm lượng KNK nói
chung, bằng cách

  • Tăng cường tái sử dụng phế phụ phẩm trồng trọt và chăn nuôi thành phân
    bón hữu cơ sinh học, than sinh học, khí sinh học…nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện độ phì nhiêu cho đất, tăng năng suất cây trồng, tiết kiệm chi phí và giảm lượng phát thải KNK, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe cộng động
  • Ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất: Công nghệ sinh học là phương
    pháp giảm lượng khí thải hiệu quả, thích ứng BĐKH và tăng năng suất cây trồng. Trên thực tế, nhiều quốc gia trên thế giới ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, phát triển nông nghiệp bền vững.
  • Ứng dụng các giải pháp quản lý, công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi; cải thiện khẩu phần ăn cho vật nuôi; chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng; thay đổi phương thức sử dụng đất.
  • Ứng dụng công nghệ xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, chất thải trong sản xuất
    nông nghiệp và chăn nuôi; phát triển nông nghiệp hữu cơ
  1. Trong lĩnh vực công nghiệp

Sử dụng công nghệ mới trong lĩnh vực công nghiệp nhằm tiết kiệm năng
lượng, sử dụng các nguyên liệu đầu vào một cách hiệu quả nhất và làm giảm lượng chất thải, đặc biệt là khí thải CO2 ra môi trường.

Triển khai các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh về sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả trong sản xuất, chế tạo, cải tạo, chuyển đổi thị trường phương tiện, trang thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất, chiếu sáng công cộng, tiết kiệm năng lượng trong công sở, trường học, cơ sở y tế, hộ gia đinh và các phương thức khác.

Thực hiện các giải pháp nghiền xỉ lò thổi, nghiền tro bay và nghiền đá vôi thay thế clinker trong sản xuất xi măng.

Sử dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các ngành
công nghiệp. Giảm tiêu thụ các chất HFCs.

Chuyển đổi từ sử dụng nhiên liệu truyền thống sang nhiên liệu sinh học, khí thiên nhiên và năng lượng điện.

Phát triển và áp dụng vật liệu xây dựng tiết kiệm năng lượng, vật liệu xanh trong lĩnh vực nhà ở và thương mại.

- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng

Tiết kiệm điện là một trong những giải pháp kinh tế khả thi nhất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường là tiết kiệm điện, đặc biệt là sử dụng các thiết bị dân dụng tiết kiệm điện như bóng đèn compact, các loại pin nạp

Xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ, khuyến khích, tạo động lực sử
dụng hiệu quả năng lượng trong các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt trong giao thông vận tải, phát triển đô thị, công nghiệp, nông nghiệp; rà soát và thải loại dần các công nghệ kém hiệu quả, tiêu hao nhiều năng lượng, gây phát thải KNK;

Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ, thiết bị, sản phẩm tiêu dùng
sử dụng năng lượng hiệu quả, sử dụng năng lượng phi hóa thạch, phát thải thấp, đặc biệt trong các ngành giao thông, đô thị, công nghiệp, nông nghiệp;

Áp dụng các công nghệ tiên tiến để nâng cao hiệu suất phát điện và giảm nhẹ
phát thải KNK tại tất cả các nhà máy nhiệt điện xây mới; triển khai ứng dụng hệ thống phát điện cỡ nhỏ dùng khí mê-tan thu hồi từ các bãi chôn lấp rác thải và các nguồn khác; thu hồi khí đốt, tận dụng nhiệt thừa của các nhà máy sản xuất công nghiệp để phát điện và đốt chất thải rắn phát điện;

Nâng cao hiệu quả sử dụng, tiết kiệm và bảo tồn năng lượng; giám sát và theo
dõi tình trạng sử dụng năng lượng của các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng; áp dụng các tiêu chuẩn về hiệu quả năng lượng đối với các sản phẩm, hệ thống nhãn hiệu tiết kiệm năng lượng.

Sử dụng phương tiện có hiệu quả sử dụng nhiên liệu cao hơn, chuyển đổi sử dụng nguyên liệu sạch hơn trong ngành giao thông, sử dụng động cơ điện trong giao
thông đường bộ.

- Phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới:

Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia theo hướng phát triển đồng bộ các nguồn
năng lượng; tăng tỷ lệ các nguồn năng lượng mới và tái tạo; xây dựng và triển khai rộng rãi các chính sách huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế-xã hội trong ứng dụng và nhân rộng sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo; Rà soát quy hoạch và phát triển thủy điện hợp lý, đa mục tiêu; đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất năng lượng từ các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng mới, bao gồm năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học, năng lượng vũ trụ.

  •  Các biện pháp nhằm hấp thụ CO2 trong môi trường:
  1. Tập trung trồng nhiều cây xanh, nhằm loại bỏ carbon đề cập đến việc tách CO2 hiện có ra khỏi khí quyển bằng các phương pháp từ đơn giản là trồng cây. Trồng cây xanh được biết đến như bể chứa carbon tự nhiên. Diện tích cây xanh rộng lớn có thể hấp thu CO2 từ khí quyển để phục vụ quá trình quang hợp.
  2. Xử lí khí thải CO2 bằng phương pháp hấp phụ sử dụng nước, đây là phương pháp đơn giản, cần lượng nước lớn, bình chứa có dung tích cao.
  3. Nghiên cứu phát triển các loại vật liệu hấp thụ CO2 để sử dụng tại các nhà máy và những nơi có nhiều phát thải CO2, áp dụng tấm plastic giống như miếng xốp hút khí thải nhà kính CO2, nhằm chuyển đổi dạng nhiên liệu hóa thạch ô nhiễm này thành các nguồn năng lượng mới.
  1. Đẩy mạnh giáo dục và nâng cao nhận thức
  • Nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
    trường

Thứ nhất, đưa giáo dục về môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường vào các chương trình giáo dục từ bậc tiểu học. Trẻ em nếu được sớm giáo dục những phương pháp bảo vệ môi trường bắt đầu tư những hành động nhỏ nhất sẽ sớm hình thành thói quen tốt sau này. Ví dụ, hướng dẫn trẻ em vứt rác đúng nơi quy định, tham gia các hoạt động ngoại khóa vệ sinh môi trường sống.

Thứ hai, tuyên truyền và phổ biến cho người dân thực trạng ô nhiễm môi trường tại nơi họ sống và những tác hại sau đó, đặc biệt là các hộ sản xuất nhỏ lẻ nhằm nâng cao ý thức tự giác bảo vệ môi trường.

Thứ ba, tuyên truyền về các biện pháp và cách thức phân loại rác tại gia đình cho người dân, chia sẻ các mô hình hiệu quả trong khu dân cư nhằm bảo vệ môi
trường, khuyến khích người dân và các doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm năng lượng
điện. Tuyên truyền các biện pháp cụ thể để tiết kiệm, lợi ích của việc tiết kiệm điện.

Cuối cùng, cần phải tuyên truyền, vận động người dân và các doanh nghiệp sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên, bảo vệ và giữ gìn nguồn tài nguyên hiện có và khôi phục bằng nhiều cách khác nhau như trồng cây gây rừng, tăng cường sử dụng năng lượng sạch không gây ô nhiễm (năng lượng mặt trời), thu gom và xử lí hợp lí các chất thải rắn, trong đó chú ý tới việc tái sử dụng chất thải rắn làm nguyên liệu sản xuất.

  • Nâng cao năng lực thực thi các chính sách bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp

Từ nhiều năm nay, để thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm và bỏ vốn đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường, chính phủ có thể sử dụng các chính sách ưu đãi nhằm một mặt tác động đến hành vi của doanh nghiệp theo hướng thân thiện với môi trường.

+ Nhóm luật lệ về bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm: nhóm này bao gồm việc ban hành và thực thi khung khổ luật pháp, các quy định, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường và được sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động có tác động đến môi trường của các chủ thể, trong đó có doanh nghiệp thông qua việc ban hành và thực thi những quy phạm pháp luật đối với quy trình sản xuất

+ Nhóm các giải pháp về nhận thức của doanh nghiệp: các doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thương mại nói riêng, tiến tới thay đổi hành vi của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt áp dụng giải pháp công nghệ sạch.

+ Nhóm giải pháp nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đích phát triển hoạt động của mình mà không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường do có kinh phí đầu tư cho việc bảo vệ môi trường.

+ Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý môi trường tại doanh nghiệp. Cụ thể là cần có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn về môi trường nhằm áp dụng các quy định của pháp luật môi trường có khả năng vận hành các hệ thống xử lý, phân tích kiểm tra mức độ đảm bảo tiêu chuẩn môi trường của các sản phẩm và chất thải.

+ Chính phủ cần xây dựng chính sách hỗ trợ về vốn, xúc tiến hoạt động thương mại, cung cấp thông tin, đào tạo đội ngũ cán bộ cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tiếp cận các công nghệ mới. Cung cấp hỗ trợ tư vấn kỹ thuật về môi trường và nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế cho doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phẩn kinh tế.

  • Cần có sự phối hợp, trao đổi thường xuyên giữa doanh nghiệp và cơ quan tham gia đàm phán các điều khoản môi trường trong các hiệp định thương mại đa phương

Việc thực hiện các Hiệp định thương mại đa phương cần có sự phối hợp, trao đổi thường xuyên giữa doanh nghiệp và cơ quan tham gia đàm phán các điều khoản môi trường nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, tiến tới xóa bỏ những ngành sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường gồm (i) giảm thuế đối với những doanh nghiệp sử dụng các dạng nguyên liệu, vật liệu thân thiện với môi trường, tăng thuế đầu vào đối với những doanh nghiệp sử dụng cácdạng nguyên, nhiên liệu hóa thạch, (ii) hỗ trợ thị trường cho những doanh nghiệp thực hiện tốt các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Việc trao đổi thường xuyên giữa doanh nghiệp và cơ quan tham gia đàm phán với các nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội phát triển trong việc tăng trưởng xanh bền vững hơn. Những yếu tố quan trọng có thể khuyến khích thúc đẩy hoạt động sản xuất và xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam như: (i) việc thực hiện các Hiệp định thương mại nhằm hoàn thiện chính sách hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam tham gia tích cực, chủ động, có hiệu quả vào thực hiện những cam kết về ứng phó với BĐKH và giảm khí thải CO2; (ii) tích cực tham gia các chương trình quốc tế về giảm nhẹ phát thải KNK nhằm tận dụng sự hỗ trợ về tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực để triển khai các chương trình giảm nhẹ phát thải KNK.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu Tiếng Việt

  1. Bùi, T.M.H., and Huỳnh, V.M.M., 2017, “FDI, Quản trị công và Chất lượng môi trường ở các nước đang phát triển”, Tạp chí Phát triển kinh tế, volume 28, no. 8, pages 4–25.
  2. Đặng Hoài Linh, 2020, “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hậu đại dịch Covid-19” - Tạp chí Ngân hàng số 14/2020.
  3. Đặng Thị Thu Hoài, Nguyễn Văn Tùng, CIEM, 2021, “Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 04/2021.
  4. Dứt, V.V. và Nga, N.T.P., 2015, “Ảnh hưởng của tham nhũng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia châu Á”, Tạp chí khoa học trường đại học Mở TP.HCM, No. 10, issue 3, pp. 162-172.
  5. EU- MUTRAP (Dự án Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của Châu Âu), 2014, Đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU.
  6. Nguyễn Văn Chiến, 2018, "Nâng cao chất lượng thu hút FDI vào Việt nam trong thời gian tới – nhìn từ góc độ thể chế”, Đại học Thủ Dầu Một.
  7. Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Hoàng Nam, 2021, “Báo cáo khoa học: Hiện trạng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức” - Tạp chí Khí tượng Thủy văn. Số 6, 51-66.
  8. Trần, T.T., 2019, Đề tài “Ứng dụng mô hình trọng lực không gian trong dự báo dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đến năm 2025”, Trung tâm Thông tin, Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia,
  9. Trung tâm WTO và Hội nhập, 2020, “Báo cáo nghiên cứu: Đầu tư trực tiếp của Australia vào Việt Nam: Đánh giá hiệu quả thực tế và Những giải pháp”.
  10. Võ, T.T.K., & Lê, T.T., 2019, “Tác động của FDI lên môi trường trong điều kiện tồn tại đường cong môi trường Kuznets (EKC)”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á, volume 30, no 8, pp 26-44.

Tài liệu Tiếng Anh

  1. Ahmad M.A., Zamil¹, Maham Furqan², Haider Mahmood, 2019, “Trade openness and CO2 emissions nexus in Oman”, Enterpreunership and Sustainability Issues, vol, 7, issue 2, pp, 1319-1329.
  2. Akbostanci, E., G.I., Tunc, and A, Turut, 2007, “Pollution Haven Hypothesis and the Role of Dirty Industries in Turkey’s Exports,” Environment and Development Economics, vol, 12, pp, 297-322.
  3. Antweiler, W., Copeland, B. R., & Taylor, M. S., 2001, Is free trade good for the environment? American Economic Review, 91(4), 877-908.
  4. Arellano, M., & Bond, S. (1991). Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. The Review of Economic Studies Journal, 58(2), 277-297.
  5. Arrow, K., Bolin, B., Costanza, R., Dasgupta, P., Folke, C., Holling, C. S., … Pimentel, D., 1995, “Economic Growth, Carrying Capacity, & the Environment. Environment & Development Economics”, volume 1, no. 01, pp.104–110.
  6. Eiji Fujii, 2017, “What Does Trade Openness Measure?”, Oxford Bulletin of Economics & Statistics 81(4).
  7. Sekrafi, H. and Sghaier, A., 2017, “The effect of corruption on carbon dioxide emissions and energy consumption in Tunisia”, PSU Research Review: An International Journal, Vol. 2 No. 1, 2018 pp. 81-95.

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202