Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Những nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí tại Việt Nam và một số giải pháp

Cập nhật lúc: 10/08/2022 03:42:26 PM

Trong những năm gần đây, ô nhiễm không khí đã trở thành vấn đề nóng và nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng. Bởi lẽ, những tác động của ô nhiễm không khí đến sức khỏe, cuộc sống rất rõ ràng. Ở Việt Nam, mỗi năm có khoảng 60.000 người chết có liên quan đến ô nhiễm không khí (1). Hiện nay, ô nhiễm không khí tiếp tục gia tăng với tốc độ đáng báo động và ngày càng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người. Theo các chuyên gia đánh giá, nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam rất đa dạng. Các nguyên nhân chính có thể kể đến như hoạt động giao thông vận tải, hoạt động xây dựng, hoạt động công nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp, năng lượng gia dụng và quản lý chất thải.      

1. Những nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí tại Việt Nam

1.1Giao thông

Hoạt động giao thông là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm không khí, cũng như ô nhiễm môi trường. Theo đánh giá, khí thải ô nhiễm môi trường ở đô thị có tới 70% bắt nguồn từ các phương tiện giao thông (2). Ở các đô thị, giao thông vận tải là nguồn gây ô nhiễm không khí lớn nhất, đặc biệt là sự phát thải vào khí quyển như bụi, các khí CO, VOC và NO2 từ ô tô, xe máy và các phương tiện sử dụng nhiên liệu khí đốt để hoạt động. Khi các phương tiện này sử dụng nhiên liệu để vận hành, động cơ sẽ phát thải một lượng lớn các chất khí có thành phần độc hại gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tham gia giao thông và sinh sống dọc các tuyến đường giao thông. Lượng phát thải các khí này tăng lên hàng năm cùng với sự gia tăng về số lượng của các phương tiện giao thông đường bộ. Đặc biệt, khi xảy ra tình trạng ùn ứ giao thông, mức độ ô nhiễm hơi xăng dầu có thể tăng lên 4 - 5 lần so với lúc bình thường. Ô nhiễm khí CO và hơi xăng dầu (HC) thường xảy ra ở các nút giao thông lớn. Do đó, nguồn khí thải từ giao thông vận tải đang trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí ở đô thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.     

Bên cạnh đó, chất lượng của các phương tiện giao thông cũng là một vấn đề đáng quan ngại. Hầu hết những loại xe ô tô cũ và xe máy đang lưu hành đều không có bộ kiểm soát khí thải ra môi trường. Các phương tiện giao thông sau một thời gian sử dụng hệ thống phun xăng sẽ bị hở ra, xăng có nguy cơ bốc cháy. Động cơ đốt không hết xăng cũng sẽ sinh ra benzen trong ống xả. Do đó, nhiều phương tiện đã qua nhiều năm sử dụng nên chất lượng kỹ thuật thấp, khiến mức tiêu thụ nhiên liệu và nồng độ chất độc hại trong khí xả cao. Trong khi đó, nhiều người tham gia giao thông tại Việt Nam chưa có thói quen bảo dưỡng phương tiện định kỳ theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Vì vậy, với mật độ các loại phương tiện giao thông cao, chất lượng các loại phương tiện giao thông kém và hệ thống đường giao thông chưa tốt khiến cho thải lượng ô nhiễm không khí từ giao thông vận tải đang có xu hướng gia tăng.

Hình. Tỷ lệ phát thải các chất gây ô nhiễm do các phương tiện cơ giới đường bộ toàn quốc năm 2014

Nguồn: Bộ TN&MT 2017

1.2 Hoạt động công nghiệp

Khí thải công nghiệp là chất thải tồn tại ở dạng hỗn hợp của các khí và bụi đi vào môi trường từ hoạt động của các cơ sở chế biến, sản xuất, nhà máy, dịch vụ công nghiệp. Đối với hoạt động công nghiệp, các quy trình công nghiệp là nguyên nhân chính tạo ra khí gây ô nhiễm khi đốt cháy nhiên liệu như than, dầu mazut, dầu diesel và khí tự nhiên… Còn các quy trình sản xuất không liên quan đến đốt cháy nhiên liệu nhưng có sự bay hơi vào khí quyển các chất gây ô nhiễm không khí.

Các ngành sản xuất công nghiệp ở nước ta rất đa dạng và thành phần các loại khí thải vào môi trường cũng khác nhau. Theo thống kê, nguồn gây ô nhiễm không khí từ công nghiệp chủ yếu do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành như nhiệt điện, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất thép…. Cụ thể:

  • Ngành nhiệt điện, theo báo cáo của Cục kỹ thuật an toàn và môi trường công nghiệp (Bộ Công thương), khí thải từ các nhà máy nhiệt điện đốt than là các loại khí như: CO, CO2, SO2, NOx… Tính riêng các nhà máy nhiệt điện tại miền Bắc mỗi năm tiêu thụ khoảng 1,5 triệu tấn than và lượng khí thải tạo ra là khoảng 20.000 tấn SO2; 8.000 tấn NOx, 4 triệu tấn CO2 và 5.000 tấn bụi…(3)
  • Ngành khai thác và chế biến than, xi măng, vật liệu xây dựng.... Đây là những ngành có đặc thù, thải ra môi trường không khí một lượng lớn khí thải chứa bụi TSP, PM10 và một số chất khác như: SO2, CO, CO2… Tại các thành phố lớn, việc xây dựng nhà cửa, cao ốc, chung cư hay đường xá và cơ sở hạ tầng cần một lượng vô cùng lớn đất cát, xi măng. Quá trình xây dựng này gây ra một lượng bụi lớn làm ô nhiễm không khí. Mặc dù đã có quy định về che chắn bụi tại các công trường xây dựng và phương tiện chuyên chở nguyên vật liệu và phế thải xây dựng, rửa xe trước khi ra khỏi công trường… nhưng việc thực hiện còn nhiều hạn chế. Do đó, việc phát tán bụi từ các hoạt động này vẫn là nguồn gây ô nhiễm không khí đô thị đáng kể
  • Ngành sản xuất thép cũng thải ra môi trường không khí một lượng khí thải khá lớn. Ước tính, sản xuất 1 tấn thép sẽ thải 10.000 m3 khí thải, 100 kg bụi và rất nhiều các chất ô nhiễm như axit, kiềm, các nguyên tố hợp kim…

            Bên cạnh đó, một số ngành như sản xuất thực phẩm và đồ uống, sản xuất sản phẩm kim loại, sản xuất gỗ và chế biến lâm sản… cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí. Ngoài ra, trong các khu công nghiệp, các nhà máy sản xuất hàng ngày thải ra một lượng khí thải cực lớn, lượng khí thải này theo tự nhiên sẽ lây lan vào khu vực thành phố, làm gia tăng mức ô nhiễm không khí trong khu vực dân cư sinh sống. Hiện nay, các khu công nghiệp liên tục gia tăng tại Việt Nam một phần là do giá nhân công rẻ cùng với chính sách bảo vệ môi trường còn nhiều bất bập, khiến các nhà đầu tư nước ngoài coi Việt Nam là một địa điểm tốt để đầu tư sản xuất công nghiệp.

1.3 Hoạt động nông nghiệp

Hiện nay, các hoạt động nông nghiệp được cho là đóng vai trò chủ yếu tại nước ta khi có hơn 50% nhân lực lao động đang tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp. Có thể thấy, hoạt động nông nghiệp cũng là một nguyên nhân khiến cho không khí tại Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề. Bởi lẽ các hoạt động sản xuất nông nghiệp thường phát sinh các khí CH4, H2S trong quá trình trồng trọt. Hơn nữa, khí thải trong chăn nuôi do các quá trình phân hủy phân động vật phát sinh các khí độc hại vào không khí như CH4, H2S, NH3

Ngoài ra, việc lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón trong sản xuất nông nghiệp cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường không khí. Khu vực ngoại ô và các tỉnh thành lân cận những thành phố lớn, người dân sử dụng thuốc sâu phun ra môi trường một lượng lớn hoá chất độc hại, những chất này theo tự nhiên như gió, nước lan vào, xâm lấn và huỷ hoại không khí thành phố.

Bên cạnh đó, người dân tại một số vùng nông thôn và ngoại thành thường đốt rơm rạ với quy mô lớn. Điều này cũng góp phần làm suy giảm đáng kể chất lượng không khí cho các vùng nội đô. Thành phần của khói đốt rơm rạ chủ yếu là CO2, CO, bụi mịn (PM10, PM2,5), cacbon đen, NO2, SO2,… Ngoài ra, do điều kiện đôt thiếu oxy, sinh ra rất nhiều khí CO – là khí rất độc, làm giảm nồng độ oxy trong máu, hạn chế vận chuyền oxy đến các cơ quan quan trọng như tim và não. Do vậy, nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời, chúng ta khó có thể có được bầu không khí trong sạch hơn.              

1.4 Năng lượng gia dụng

Các nguồn phát sinh ô nhiễm không khí từ năng lượng gia dụng ở các hộ gia đình Việt Nam bao gồm các nguồn chất đốt như dầu, khí đốt, dầu hỏa, than đá, than tổ ong, gỗ, các sản phẩm thuốc lá; hệ thống sưởi ấm và làm mát trung tâm và các thiết bị tạo ẩm. Ở nước ta, các nguồn nhiên liệu như than tổ ong, gỗ củi, chất thải rắn nông nghiệp, khí hóa lỏng đang là nguồn năng lượng chính được sử dụng để đun nấu hằng ngày. Đáng chú ý, ở các vùng nông thôn, củi thường là nguyên liệu chính được sử dụng phục vụ mục đích đun nấu, có khi là sưởi ấm của các hộ gia đình. Tuy nhiên, hàm lượng bụi PM10 phát sinh khi sử dụng củi đun là rất lớn, tương ứng 305,7 ± 105,3 µg/m3 (Lê và cộng sự 2018). Khi đun nấu bằng củi, người nấu bếp thường có thêm hành động thổi gió khi cần ngọn lửa bùng cháy mạnh hơn, cấp nhiều nhiệt hơn. Vì vậy, vô tình hoạt động này làm phân tán lượng tro vào không khí, làm tăng hàm lượng bụi tức thời.

Bên cạnh đó, dù phát sinh hàm lượng bụi PM10 thấp hơn khi sử dụng củi đun nấu (96,8 ± 66,3 µg/m3) (Lê và cộng sự 2018), việc sử dụng bếp than tổ ong ở giai đoạn chuẩn bị, nhóm lò, hoạt động nhằm khởi động bếp đun than làm phát sinh lượng lớn bụi và nhiều loại khí gây ô nhiễm môi trường như CO, SO2, bụi,… Do đó, tại các đô thị, khu vực dân cư thường tập trung đông đúc nên nguy cơ gây áp lực lên môi trường không khí lớn hơn so với khu vực nông thôn.

Cho đến nay, mặc dù chất lượng cuộc sống ở các khu đô thị đã được nâng cao, phần lớn người dân đã có nhu cầu tiếp cận và sử dụng các nguồn nhiên liệu khác để thay thế. Tuy nhiên, nhiều người vẫn thường sử dụng than, củi, chủ yếu là dạng than tổ ong để đun nấu do chi phí rẻ. Vì thế, nguồn gây ô nhiễm không khí này vẫn còn là mối lo ngại.     

1.5 Quản lý rác thải

Kinh tế phát triển nhanh chóng trong hơn một thập kỷ trở lại đây cũng kéo theo việc một lượng lớn rác thải được thải ra khiến cho các khu tập kết rác không xử lý được hết khiến mùi hôi thối bốc ra gây ô nhiễm môi trường. Nhìn chung, tất cả các giai đoạn quản lý chất thải, nhất là chất thải rắn từ khâu thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý (chôn lấp, đốt) đều gây ô nhiễm môi trường. Tại Việt Nam, hoạt động phân loại chất thải rắn tại nguồn chưa được phát triển rộng rãi, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế, phần lớn phương tiện thu gom không đạt quy chuẩn kỹ thuật và không đảm bảo vệ sinh môi trường. Các điểm tập kết rác thải (điểm hẹn, trạm trung chuyển) chưa được đầu tư xây dựng đúng mức, gây mất vệ sinh. Đây là những nguyên nhân khiến tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm không khí nói riêng tại Việt Nam chưa được cải thiện triệt để.

Cụ thể, khi vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí. Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong chất thải rắn như: Amoni có mùi khai, phân có mùi hôi, Hydrosunfur mùi trứng thối, Sunfur hữu cơ mùi bắp cải thối rữa, Mecaptan hôi nồng, Amin mùi cá ươn, Diamin mùi thịt thối, Cl2 hôi nồng…

Các hoạt động xử lý rác thải cũng góp phần gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Đối với các bãi chôn lấp, ước tính 30% các chất khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần có sự tác động nào. Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải sinh hoạt, có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu. Dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, chất thải rắn hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí (CH4 – 63,8%, CO2 – 33,6%, và một số khí khác). Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011, CH4 và CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp.

Bên cạnh hoạt động chôn lấp chất thải rắn, việc xử lý rác thải bằng biện pháp xử lý thủ công như đốt rác cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí. Việc đốt rác sẽ làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu. Chất thải rắn có thể bao gồm các hợp chất chứa Clo, Flo, lưu huỳnh và nitơ, khi đốt lên làm phát thải một lượng không nhỏ các chất khí độc hại hoặc có tác dụng ăn mòn. Mặt khác, nếu nhiệt độ tại lò đốt rác không đủ cao và hệ thống thu hồi quản lý khí thải phát sinh không đảm bảo, khiến cho chất thải rắn không được tiêu hủy hoàn toàn làm phát sinh các khí CO, oxit nitơ, dioxin và furan bay hơi là các chất rất độc hại đối với sức khỏe con người. Một số kim loại nặng và hợp chất chứa kim loại (như thủy ngân, chì) cũng có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi trường.

Với dân số hàng triệu người, mỗi ngày những thành phố lớn ở Việt Nam cần xử lý rất nhiều rác thải. Thói quen đổ rác thải bừa bãi ven đường, bờ sông, ao hồ, đồng ruộng... của một số hộ gia đình vẫn còn diễn ra, gây ra nhiều tác hại cho môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Một số cá nhân, tổ chức đổ rác không đúng nơi quy định, xử lý rác không đúng cách và sử dụng phương pháp đốt rác cũng gây nên hậu quả nặng nề cho không khí của các khu đô thị lân cận.

2. Một số giải pháp

Thứ nhất, cần tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách bảo vệ môi trường không khí; thiết lập các hàng rào kỹ thuật, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường, tiếp cận với tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trên thế giới. Cần sớm triển khai thực hiện lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với các phương tiện giao thông vận tải; quản lý vệ sinh lao động, môi trường trong thi công xây dựng; tăng cường kiểm soát đối với các dự án, nhà máy phát thải lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao như: nhiệt điện than, dầu khí, thép, hóa chất và phân bón hóa học, chế biến và khai thác khoáng sản; đánh giá tác động của ô nhiễm môi trường không khí đến sức khỏe, đề xuất các biện pháp bảo vệ sức khỏe người dân, nhất là các đối tượng nhạy cảm như người già, trẻ em… trong trường hợp ô nhiễm không khí ở mức rất xấu, nguy hại để người dân có biện pháp tự bảo vệ sức khỏe của bản thân và gia đình mình.

Cần ban hành luật chuyên biệt về bảo vệ môi trường không khí. So với quản lý chất lượng nước thì quản lý chất lượng không khí vẫn còn được ít quan tâm, kể cả về nhận thức, tổ chức quản lý, đầu tư nguồn lực, các công cụ quản lý. Vẫn còn thiếu nhiều qui định văn bản đặc thù để kiểm soát không khí. Theo kinh nghiệm quốc tế, muốn quản lý chất lượng không khí một cách toàn diện, tổng thể với nhiều giải pháp đồng bộ cần phải xây dựng văn bản luật chuyên biệt để kiểm soát ô nhiễm không khí. Ở một số quốc gia trên thế giới, hệ thống chính sách pháp luật bảo vệ môi trường được tiếp cận theo hướng có luật khung/cơ bản về môi trường và bên cạnh đó là các luật chuyên biệt đối với thành phần môi trường. Luật này sẽ quy định rõ trách nhiệm và sự phối hợp của các bên liên quan đặc biệt là trách nhiệm của chính quyền địa phương/đô thị trong việc thực thi các biện pháp bảo vệ và cải thiện chất lượng không khí.

Thứ hai, triển khai các biện pháp quy hoạch đô thị theo hướng thân thiện hơn với môi trường, nhất là môi trường không khí. Quy hoạch đô thị ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng không khí, việc có quá nhiều các tòa nhà cao tầng trong nội đô cũng ảnh hưởng tới sự phát tán của các chất ô nhiễm. Ngoài ra, quy hoạch còn ảnh hưởng đến cả hệ thống giao thông và sự vận hành của các phương tiện giao thông công cộng. Do đó, cải thiện được vấn đề quy hoạch cũng như giao thông, đường xã, xây dựng có thể giúp giảm thiểu đáng kể mức độ ô nhiễm không khí. Trọng tâm của phương án này là giảm thiểu việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất trong thành phố hay sát với các vùng quy hoạch khu dân cư, kết hợp với chuyển các nhà máy, khu chế xuất đã có từ trước ra xa khỏi khu vực sinh sống của người dân. Khuyến khích người dân đi lại bằng các phương tiện công cộng để giảm thiểu ùn tắc và phương tiện tham gia giao thông, qua đó làm giảm mật độ khói bụi và các chất thải do quá trình đốt cháy nhiên liệu xăng dầu trong không khí, nhất là vào giờ cao điểm. Đồng thời, tạo ra các diện tích cây xanh rộng lớn trong thành phố, thiết lập các dải cây xanh nối liền các khu vực khác nhau của các khu dân cư, nhất là các khu vực, tuyến phố có nhiều phương tiện qua lại và hay xảy ra tình trạng ùn tắc. Việc trồng nhiều cây xanh đô thị không những giúp kiến tạo cảnh quan, mà còn có thể giúp giảm bớt ô nhiễm không khí.

Thứ ba, triển khai việc kiểm kê, đánh giá các nguồn thải gây ô nhiễm không khí trên từng địa bàn để có phương án xử lý thích hợp, hiệu quả. Ô nhiễm không khí là hệ quả của nhiều hoạt động công nghiệp, phát triển khác nhau, do đó, tại các địa phương, khu vực khác nhau sẽ có những nguyên nhân khác nhau gây ô nhiễm không khí. Tại Việt Nam, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động quản lý chất lượng không khí đến năm 2020 với tầm nhìn tới năm 2025  (Quyết định Số 985/QD-TTG) năm 2016, trong đó cũng đã đề ra các hoạt động bao gồm việc xác định và theo dõi các nguồn ô nhiễm và giám sát chất lượng không khí ở tất cả các cấp – sẽ góp phần phổ biến các hành động hướng đến cải thiện chất lượng không khí. Việc rà soát, xác định đúng nguyên nhân sẽ giúp lập phương án, cách thức phù hợp để xử lý vấn đề ô nhiễm. Ví dụ như tại các khu vực đô thị, giải quyết ô nhiễm không khí có thể thông qua việc: chuyển các cơ sở sản xuất công nghiệp ra vùng ngoại ô; xây dựng, triển khai phương án nhằm hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, có phương án điều tiết giao thông hợp lý, tránh ùn tắc, gây ô nhiễm không khí cục bộ trên đường phố trong các giờ cao điểm; tổ chức thực hiện hoạt động phun nước rửa đường tại các trục, tuyến đường giao thông chính của thành phố, nhất là khi thời tiết khô hanh để hạn chế bụi phát tán; kiểm soát chặt chẽ các phương tiện đổ thải, bảo đảm che chắn cẩn thận, không làm rơi vãi, phát tán bụi ra môi trường, nhất là tại khu vực tập trung điểm tập kết rác thải. Trong khi đó, tại các khu công nghiệp, giảm ô nhiễm không khí có thể được kiểm soát thông qua đẩy mạnh việc chuyển đổi, sử dụng các công nghệ, dây chuyển sản xuất hiện đại thân thiện hơn với môi trường, ít phát thải khí ô nhiễm; thay đổi dạng năng lượng sử dụng, hạn chế sử dụng các nguyên liệu hoá thạch gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; lắp đặt các hệ thống xử lý khí ô nhiễm trước khi thải ra môi trường; …

Chính vì vậy, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các nguồn phát thải gây ô nhiễm môi trường không khí trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực giao thông, xây dựng. Xây dựng, thiết lập mạng lưới các trạm quan trắc không khí tự động, liên tục đủ lớn, đảm bảo cho việc quan trắc, thu nhận, truyền dẫn số liệu giúp các cơ quan quản lý có thể theo dõi, giám sát, cảnh báo, dự báo được chất lượng môi trường không khí, đặc biệt là tại các đô thị lớn.

Thứ tư, tăng đánh thuế các phương tiện giao thông cá nhân, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích sử dụng các phương tiện giao thông công cộng. Việc cấm, hạn chế các phương tiện giao thông cá nhân lưu thông luôn là chủ đề được nhắc đến nhiều nhất, đồng thời gây nhiều tranh cãi khi xem xét tới các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí tại các khu vực đô thị. Quá trình đô thị hoá nhanh chóng, với dân số đô thị tăng cao (cả về mặt sinh học và vật lý do di cư) đã khiến các vùng đô thị ngập trong khói bụi ô nhiễm từ các phương tiện giao thông, đặc biệt là phương tiện giao thông cá nhân. Thay vì cấm, việc tăng đánh thuế sở hữu, thuế sử dụng vào các phương tiện giao thông cá nhân, đồng thời với phát triển mạnh mẽ hệ thống các phương tiện giao thông công cộng được kỳ vọng sẽ là cách thức có thể tác động tích cực hơn đến thay đổi hành vi của người tiêu dùng. Thay vì sở hữu và sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân với mức thuế, phí, và chi phí vận hành hàng năm đắt đỏ, tốn kém, việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng với chi phí tiết kiệm hơn sẽ dần tác động và thay đổi hành vi của người tiêu dùng theo hướng tích cực và bền vững. Chính vì vậy, nhóm chính sách này cần thực hiện song hành, đồng thời với nhau. Cần phát triển hệ thống giao thông công cộng, phủ sóng rộng khắp mạng lưới giao thông công cộng tới các khu vực trên thành phố. Ưu tiên phát triển và sử dụng các công nghệ sử dụng năng lượng sạch, thân thiện với môi trường.

Ngoài ra, cũng cần kết hợp với việc rà soát, thu hồi, loại bỏ những phương tiện cơ giới đã cũ, lạc hậu, không đảm bảo tiêu chuẩn phát thải khói bụi gây ô nhiễm môi trường. Tính đến tháng 02/2020, toàn quốc có tổng số 3.553.700 xe ô tô và khoảng 45 triệu xe máy đang lưu hành; trong đó, Hà Nội có gần 6 triệu xe máy, TP.HCM có hơn 8 triệu xe máy lưu thông hàng ngày, chưa tính đến các phương tiện giao thông của người dân từ các địa phương khác đi qua. Trong số các phương tiện đang lưu hành, nhiều phương tiện cũ không đảm bảo tiêu chuẩn khí thải, niên hạn để lưu thông trong thành phố, nhiều xe qua nhiều năm sử dụng và không thường xuyên bảo dưỡng nên hiệu quả sử dụng nhiên liệu thấp, nồng độ chất độc hại và bụi trong khí thải cao. Đây là một trong những nguyên nhân của vấn đề ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn ở Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thời gian gần đây ngày càng gia tăng.

Thứ năm, tăng cường tuyên truyền, vận động những tác hại của ô nhiễm môi trường không khí trong cộng đồng, hướng tới thay đổi các hành vi, thói quen có khả năng gây hại cho môi trường không khí. Tương tự như các vấn đề môi trường khác, giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí cần được thực hiện liên tục, kiên trì trong dài hạn, bởi quá trình xử lý chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người dân và doanh nghiệp. Đơn cử như việc hạn chế phương tiện cá nhân sẽ buộc một số doanh nghiệp phải thay đổi phương thức kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp tới doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bao gồm: các doanh nghiệp kinh doanh phương tiện giao thông cá nhân (ô tô, xe máy), các doanh nghiệp kinh doanh phụ kiện phụ trợ đi kèm (mũ bảo hiểm, vật tư, phụ tùng ô tô, xe máy), các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sửa chữa, … Hay việc loại bỏ bếp than tổ ong cũng sẽ buộc doanh nghiệp phải đầu tư chi phí nhiều hơn vào các công nghệ mới thân thiện hơn với môi trường. Do vậy, các cấp chính quyền cần tập trung tuyên truyền để doanh nghiệp, người dân ủng hộ và thực hiện các giải pháp giảm ô nhiễm không khí được triển khai tại địa phương mình; đẩy mạnh công tác kiểm tra, phát hiện để xử lý nghiêm các dự án, cơ sở sản xuất, công trình xây dựng gây ô nhiễm môi trường… trên địa bàn theo quy định. Nhìn chung, cần tăng cường nâng cao nhận thức cho các nhà quản lý, lập chính sách về ô nhiễm không khí; các tác động, ảnh hưởng và thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra. Cần mâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của chất lượng môi trường không khí xung quanh đối với sức khoẻ của cộng đồng cũng như ảnh hưởng của nó tới chất lượng sống. Cần tăng cường tuyên truyền, cung cấp thông tin chất lượng không khí cho cộng đồng. Xây dựng và phổ biến áp dụng chỉ số chất lượng không khí (AQI). Cần công khai các thông tin, số liệu liên quan đến tình hình ô nhiễm không khí và các nguồn chính gây ô nhiễm không khí trên các phương tiện thông tin đại chúng để cộng đồng có nhận thức đúng về ô nhiễm không khí và nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc BVMT không khí.

-------------------------------

Chú thích

  1. https://www.who.int/vietnam/vi/health-topics/air-pollution
  2. https://drvn.gov.vn/tin-tuc/tin-tuc-su-kien/van-de-o-nhiem-moi-truong-do-hoat-dong-giao-thong-do-thi-gay.html?site=20830
  3. http://xulymoitruong360.com/tim-hieu-ve-khi-thai-cong-nghiep.html

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ TN&MT, 2017. “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016 – Chuyên đề Môi trường đô thị”
  2. Lê, H.A., Cường, Đ.M., Anh, N.T.K., 2018. “Ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời bởi bụi (PM10, PM2,5, PM1) khi sử dụng các loại nhiên liệu đun nấu khác nhau”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 4 (2018) 28-34

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202