Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Giả thuyết thiên đường ô nhiễm Pollution Haven Hypothesis (PHH) và mối quan hệ giữa thương mại và môi trường

Cập nhật lúc: 29/07/2022 03:28:00 PM

1. Giải thuyết thiên đường ô nhiễm Pollution Haven Hypothesis (PHH)

Mối liên hệ giữa môi trường và thương mại bắt đầu trở thành vấn đề trọng tâm được thảo luận rộng rãi từ những năm 1970 và càng được tranh luận gay gắt hơn vào những năm 1990 khi mở cửa thương mại được đẩy mạnh thông qua việc hình thành và ra đời các tổ chức và các hiệp định thương mại như: Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ, Ủy Ban Về Môi Trường Và Phát Triển Của Liên Hợp Quốc (UNCED), Vòng đàm phán Uruguay của Tổng Hiệp định về Thuế quan và Thương mại, WTO,…. Theo đó, các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu, các nhóm công nghiệp và chính trị đã đưa ra chủ đề cấp thiết cần quan tâm, đó là tác động của sự gia tăng thương mại quốc tế này đối với môi trường (Stonehouse 2000). Một trong những quan điểm về mối liên hệ này được đưa ra thông qua giả thuyết “thiên đường ô nhiễm” (Pollution Haven Hypothesis – PHH).

PHH lần đầu tiên được Copeland và Taylor công nhận năm 1994, khi đưa ra mối liên kết giữa các quy định nghiêm ngặt về môi trường, các mô hình thương mại với mức độ ô nhiễm ở một quốc gia. Copeland và Taylor (1994) cho rằng, khi tham gia tự do hóa thương mại, các công ty sản xuất sản phẩm “bẩn” sẽ di chuyển từ các nước giàu có quy định nghiêm ngặt về môi trường sang các nước đang phát triển có các quy định tương đối yếu về môi trường. Do đó, trong xu hướng mở cửa thương mại, các nước đang phát triển sẽ trở thành “thiên đường ô nhiễm” hay nơi “trú ngụ” ô nhiễm cho các ngành công nghiệp “bẩn” của các nước tiên tiến phát triển. Nói cách khác, PHH đã dự đoán một thảm họa môi trường có thể xảy ra ở các nước đang phát triển – nơi thường có các quy định về môi trường tương đối yếu.

Giả thuyết “thiên đường ô nhiễm” có những lý giải cơ bản sau: Các nước phát triển thường đặt ra các tiêu chuẩn về môi trường nghiêm ngặt. Điều này sẽ làm tăng các chi phí liên quan đến bảo vệ môi trường như: tăng chi phí sản xuất; tăng chi phí quản lý do phải kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào hay đặt ra các tiêu chuẩn phát thải nghiêm ngặt; chi phí thay đổi các công nghệ riêng biệt để xử lý chất thải…. Vì vậy, để tối đa hóa lợi nhuận, các công ty đa quốc gia trong các ngành sản xuất ô nhiễm nặng sẽ dịch chuyển các hoạt động hoặc một phần hoạt động sang các chi nhánh ở các quốc gia đang phát triển, nơi có quy định về môi trường ít nghiêm ngặt hơn. Ở chiều ngược lại, chính sách môi trường ở các quốc gia đang phát triển càng lỏng lẻo càng tạo ra sức hút đối với dòng vốn FDI từ các ngành sản xuất hàng hoá "bẩn". Hệ quả là các quốc gia đang phát triển có thể tham gia vào một "cuộc chạy đua xuống đáy" và mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng tăng lên (Williamson & cộng sự 2006).

Theo một cách lý giải khác, Eskeland & Harrison (2003) sử dụng lý thuyết về lợi thế so sánh (comparative advantage theory) để luận giải giả thuyết “thiên đường ô nhiễm”. Ở các quốc gia phát triển, các chi phí liên quan đến ô nhiễm môi trường thường rất cao. Do đó, một số ngành công nghiệp dần mất đi lợi thế so sánh ở tại các quốc gia này. Tuy nhiên, các ngành công nghiệp đó vẫn có thể tạo ra lợi thế so sánh nếu nó được dịch chuyển sang các quốc gia đang phát triển mà có chính sách thuế phí liên quan đến ô nhiễm môi trường thấp hơn. Theo đó, sự khác biệt về tiêu chuẩn, quy định và chi phí liên quan đến bảo vệ môi trường kéo theo quá trình tái cấu trúc sản xuất giữa các quốc gia, đặc biệt là các ngành công nghiệp ô nhiễm nặng. Cụ thể, các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường có xu hướng dịch chuyển từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển thông qua dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Hệ quả là các nước đang phát triển có nguy cơ sẽ phải đối mặt với ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng hơn. Mặt khác, sự dịch chuyển này không chỉ dẫn đến việc tái cấu trúc sản xuất giữa các nền kinh tế mà còn thay đổi cả mô hình thương mại giữa các quốc gia. Do đã dịch chuyển các ngành sản xuất “bẩn”, các quốc gia phát triển sẽ chuyên môn hóa và xuất khẩu những sản phẩm “sạch”, thân thiện hơn với môi trường. Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển sẽ có xu hướng chuyên môn hóa và xuất khẩu những mặt hàng có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường nhiều hơn (Fozia Latif Gill và cộng sự 2018).

2. Ảnh hưởng của độ mở cửa thương mại đến ô nhiễm môi trường và phát thải khí CO2

Độ mở thương mại ảnh hưởng xấu hay tốt đối với môi trường? Vấn đề này đang là mối quan tâm lớn trong các cuộc tranh luận quốc tế về BĐKH và ô nhiễm môi trường. Theo đó, mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và môi trường đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới từ khá lâu. Các nghiên cứu của Pethig (1976), Siebert (1977) và McGuire (1982) đặt nền móng cho sự phát triển lý thuyết ban đầu cho các cuộc tranh luận giữa thương mại – môi trường. Trong nghiên cứu của mình, Pethig (1976) cho rằng nếu một quốc gia có các quy định về môi trường ít nghiêm ngặt hơn so với các nước khác thì mở cửa thương mại có thể khiến quốc gia này sẽ chuyên môn hóa sản xuất các hàng hóa gây ô nhiễm môi trường. Siebert (1977) mở rộng nghiên cứu của Pethig và nhấn mạnh rằng các chính sách môi trường có thể giúp cho việc sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn để sản xuất hàng hóa, nhất là hàng hóa gây ô nhiễm, từ đó chất lượng môi trường được cải thiện. Một lập luận tương tự cũng được tìm thấy trong khung lý thuyết của Heckscher-Ohlin (H-O) nghiên cứu bởi McGuire (1982) khi bổ sung thêm yếu tố môi trường vào mô hình H-O. Trong mô hình này, một quốc gia có tỷ lệ tương đối về chi phí các yếu tố đầu vào thấp hay tỷ lệ tương đối về yếu tố vốn hữu hình cao sẽ lựa chọn chuyên môn hóa sản xuất về các mặt hàng với mức độ ảnh hưởng môi trường cao hơn. Từ đó, tự do hóa thương mại dẫn đến việc chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa có mức độ gây ô nhiễm môi trường cao, điều này gây bất lợi hay ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường.

Trái ngược với lý thuyết trên, theo định lý Stolper-Samuelson, chi phí phải trả về môi trường sẽ được tăng lên như là một yếu tố ngoại biên trong quá trình sản xuất hàng hóa của các doanh nghiệp. Do đó, các công ty sẽ lựa chọn các công nghệ sản xuất ít gây ô nhiễm môi trường hơn (hay gọi là “hiệu ứng kỹ thuật”), từ đó thương mại sẽ giúp giảm khí thải gây ô nhiễm môi trường (Dean 2002). Theo Antweiler và cộng sự (2001), tác động của tự do hóa thương mại đến môi trường được cụ thể hóa thông qua ba kênh gồm: hiệu ứng quy mô, hiệu ứng công nghệ và hiệu ứng thành phần. Theo đó, hiệu ứng quy mô có ảnh hưởng gây ô nhiễm môi trường trong khi hiệu ứng công nghệ cho thấy tác động tích cực của độ mở thương mại đến môi trường còn hiệu ứng thành phần ảnh hưởng đến chất lượng môi trường phụ thuộc và lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hóa thân thiện hay làm ô nhiễm môi trường và hiệu quả của những chính sách môi trường của quốc gia đó.

Có thể nhận thấy, độ mở thương mại đóng vai trò là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và có tác động đến phát thải khí CO2. Theo Chen và cộng sự (2021), sự tác động này thể hiện ở ba kênh gồm: (i) hiệu ứng sử dụng năng lượng thay thế; (ii) hiệu ứng quy mô nền kinh tế (đo lường thông qua GDP) và (iii) hiệu ứng công nghệ. Đối với kênh “độ mở thương mại - năng lượng sử dụng thay thế - phát thải khí CO2”, mở cửa thương mại khiến các nước tích cực đẩy mạnh hoạt động giao thương xuất nhập khẩu, FDI và đầu tư cho phát triển năng lượng cũng được tăng cường. Theo đó, việc đầu tư vào năng lượng tái tạo càng ngày càng tăng khiến các nước tham gia mở cửa thương mại có cơ hội tiêu thụ năng lượng tái tạo. Vì vậy, mở cửa thương mại giúp cải thiện cơ cấu tiêu thụ năng lượng trong nước và cuối cùng là giảm phát thải khí CO2.

Đối với kênh “độ mở thương mại – GDP – khí thải CO”, tác động của độ mở thương mại đối với GDP chủ yếu thể hiện ở hai khía cạnh gồm tác động ngoại ứng của công nghệ và hiệu quả kinh tế theo quy mô. Thứ nhất, hiệu ứng lan tỏa tri thức là một động lực quan trọng cho thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Hoạt động thương mại xuất nhập khẩu đều giúp mở rộng quy mô thị trường và gia tăng đáng kể nguồn tri thức trong nền kinh tế, tạo môi trường tốt cho các công ty “bắt chước” công nghệ tiên tiến, và do đó thúc đẩy tăng trưởng GDP (Branstetter 2006). Thứ hai, mở cửa thương mại cũng có thể thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu, đưa sản lượng thực tế của doanh nghiệp tiệm cận gần hơn với sản lượng tiềm năng tối đa, qua đó giúp cải thiện hiệu quả kinh doanh và thúc đẩy kinh tế (Herzer 2010). Mối quan hệ giữa GDP với CO2 có thể giải thích thông qua đường cong EKC, quan hệ cùng chiều trong ngắn hạn và ngược chiều trong dài hạn.

Đối với kênh “độ mở thương mại – cường độ sử dụng năng lượng – phát thải CO2”, về nguyên tắc kinh tế năng lượng thì mở cửa thương mại sẽ làm giảm cường độ năng lượng (Copeland & Taylor 2004). Hiệu ứng này có thể được thể hiện thông qua hiệu ứng cấu trúc và hiệu ứng công nghệ. Hiệu ứng cấu trúc liên quan đến những thay đổi trong cơ cấu ngành do độ mở thương mại gây ra. Chẳng hạn như ở các nước Vành đai và Con đường, mở cửa thương mại đã thúc đẩy chuyển đổi nền kinh tế của họ. Cụ thể, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng hơn sẽ chuyển sang các ngành dịch vụ sử dụng ít năng lượng hơn và qua đó làm giảm cường độ năng lượng (Fisher-Vanden và cộng sự 2006). Trong khi đó, hiệu ứng công nghệ liên quan đến các kênh như nghiên cứu và phát triển, giúp các nước tham gia thương mại quốc tế có cơ hội tiếp cận các công nghệ tiên tiến trên thế giới thông qua dòng FDI. Việc sử dụng công nghệ tiên tiến và quy trình sản xuất, thiết bị tiết kiệm năng lượng và ít phát thải sẽ làm giảm cường độ năng lượng công nghiệp (Copeland & Taylor 1997).

Như vậy, ảnh hưởng của độ mở cửa thương mại đến phát thải khí CO2 là ảnh hưởng tổng hợp của 3 kênh trên. Về mặt lý thuyết, kênh năng lượng thay thế và hiệu ứng công nghệ có tác động ngược chiều lên phát thải khí CO2 trong khi kênh hiệu ứng quy mô nền kinh tế thì chưa rõ ràng. Ngoài ra, mối quan hệ giữa độ mở thương mại và phát thải khí CO2 còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như FDI, dân số thành thị, hiệu quản quản trị nhà nước....

-----------------------------------

Tài liệu tham khảo

  1. Antweiler, W., Copeland, B. R., & Taylor, M. S., 2001, Is free trade good for the environment? American Economic Review, 91(4), 877-908.
  2. Branstetter, L. 2006, Is foreign direct investment a channel of knowledge spillovers? Evidence from Japan’s FDI in the United States. J.
    Int. Econ., 68, 325–344.
  3. Chen, F.; Jiang, G.; Kitila, G.M. 2021, Trade Openness and CO2 Emissions: The Heterogeneous and Mediating Effects for the Belt and Road Countries. Sustainability, 13, 1958.
  4. Copeland, B.R.; Taylor, M.S., 1997, The trade-induced degradation hypothesis. Resour. Energy Econ., 19, 321–344.
  5. Copeland, B.R.; Taylor, M.S., 2004, Trade, growth, and the environment. J. Econ. Lit., 42, 7–71.
  6. Dean, J. M., 2002, Does trade liberalization harm the environment? A new test,Canadian Journal of Economics/Revue canadienne d'eùconomique, 35(4), 819-842.
  7. Eskeland, G., & Harrison, A. E., 2003, “Moving to greener pasture”, Multinationals and the Pollution Haven.
  8. Fisher-Vanden, K.; Jefferson, G.H.; Jingkui, M.; Ma, J.; Xu, J., 2006, Technology development and energy productivity in China. Energy Econ., 28, 690–705.
  9. Herzer, D. Outward FDI and economic growth. J. Econ. Stud. 2010, 35, 476–494.
  10. McGuire (1982), 'Regulation, Factor Rewards, and International Trade' Journal of Public Economics.
  11. Pethig (1976), 'Pollution, Welfare and Environmental Policy in the Theory of   Comparative Advantage', Journal of Environmental Economics and Management.
  12. Siebert (1977), Environmental Quality and the Gains from Trade, Kyklos.
  13. Stonehouse, D.P. , 2000, “A review of WTO and environmental issues”,
    Journal of Agricultural and Environmental Ethics, 13(1), 121-144.
  14. Williamson, D., Lynch-Wood, G., & Ramsay, J., 2006, “Drivers of environmental behaviour in manufacturing SMEs and the implications for CSR”, Journal of Business Ethics, 67(3), 317-330.

 

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202