Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Tác động của mở cửa thương mại đến môi trường quốc gia

Cập nhật lúc: 10/08/2022 03:08:35 PM

1. Khái niệm mở cửa thương mại

1.1 Mở cửa thương mại

“Mở cửa thương mại”, theo định nghĩa chung nhất, là thuật ngữ phản ánh xu hướng hoạt động giao thương thương mại quốc tế, có thể là hướng nội hoặc hướng ngoại, của mỗi một quốc gia trên toàn cầu. Hướng ngoại đề cập đến các nền kinh tế tận dụng đáng kể các cơ hội để giao thương với nhiều quốc gia khác, trong khi đó, hướng nội đề cập đến các nền kinh tế coi nhẹ việc tận dụng hoặc không thể tận dụng các cơ hội để giao thương với các nước khác (1). Tuy nhiên, trong thực tế, việc áp dụng định nghĩa này là một thách thức lớn rất vì đây là một khái niệm mang nội hàm rộng, bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau liên quan tới hoạt động thương mại quốc tế, điển hình như các rào cản thương mại. Nó đòi hỏi dữ liệu chi tiết và nhất quán đối với nhiều quốc gia và việc tổng hợp các dữ liệu chi tiết thành một chỉ số tổng thể đủ tiêu chuẩn như một thước đo chung về độ mở thương mại là rất khó (Eiji Fujii 2017). Do đó, trong bài viết này, tác giả đề cập tới khái niệm mở cửa thương mại với nội hàm hẹp, đó là sự mở cửa của một quốc gia với các quốc gia khác thể hiện trong việc thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình.

1.2 Độ mở cửa thương mại

Về mặt khái niệm chung, độ mở thương mại có thể được định nghĩa là mức độ mà một nền kinh tế duy trì định hướng hướng ngoại của mình trong thương mại (Eiji Fujii 2017). Về phương pháp tính, độ mở thương mại (Trade Openness) được tính bằng cách lấy giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (Export and Import) của một thời kỳ chia cho giá trị của tổng sản phẩm trong nước cũng trong thời kỳ đó:

Bên cạnh đó, Pritchett (1996) đưa ra khái niệm cường độ thương mại của nền kinh tế, được xác định là tốc độ mở cửa (growth of trade openness) và đây cũng là căn cứ để tính toán xem mức độ mở cửa của một quốc gia là nhanh hay chậm, tăng lên bao nhiêu phần trăm. Khái niệm này được Hoàng Xuân Bình (2011) chọn làm nền tảng và tính toán bằng công thức như sau:

Trong đó:

gOG: là tốc độ mở cửa thương mại.

OG(t): là độ mở cửa thương mại của năm t;

OG(t-1): là độ mở cửa thương mại của năm t-1.

Từ công thức này có thể tính toán tốc độ mở cửa thương mại của một quốc gia cụ thể hơn, để biết hàng năm nước này có tốc độ mở cửa thương mại tăng lên bao nhiêu %, và dễ dàng so sánh tương quan với các chỉ tiêu khác để phục vụ các mục đích nghiên cứu khác nhau như tốc độ tăng trưởng, tốc độ lạm phát, tốc độ tăng FDI.

2. Tác động của mở cửa thương mại đến môi trường quốc gia

Hoạt động thương mại là một trong những khâu quan trọng của tái sản xuất nền kinh tế - xã hội, mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia vào quá trình này. Thương mại và chuyên môn hóa sản xuất sẽ tạo ra sản lượng lớn cho xã hội, phát huy lợi thế so sánh của mỗi nước tham gia vào quá trình thương mại quốc tế. Bởi vậy, sự phát triển của các hoạt động thương mại, bao gồm mở cửa thương mại, một mặt, góp phần tích cực vào quá trình tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân loại; mặt khác, có thể tác động nhiều chiều đến môi trường ở mỗi quốc gia.

2.1 Tác động tích cực

Một số những luận điểm cơ bản về tác động tích cực đến môi trường do mở cửa thương mại mang lại bao gồm:

Thứ nhất, mở cửa thương mại đem lại cơ hội phát triển kinh tế cho mỗi quốc gia và từ đó làm gia tăng mức thu nhập của người dân. Khi thu nhập tăng, mỗi người dân có xu hướng gia tăng nhu cầu cũng như sẵn lòng chấp nhận các sản phẩm xanh, sạch; hàng hóa chất lượng cao, thân thiện với môi trường - nghĩa là cầu về hàng hóa môi trường có độ co giãn theo thu nhập (2) rất cao.

Thứ hai, mở cửa thương mại giúp các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn để tiếp cận các công nghệ sản xuất tiên tiến, những sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Nhờ đó, hoạt động sản xuất sẽ trở nên ít gây tổn hại đến môi trường và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.

Thứ ba, mở cửa thương mại với sự phát triển sôi nổi của hoạt động xuất nhập khẩu có thể mang lại nguồn ngân sách đáng kể cho mỗi quốc gia, việc huy động các nguồn tài chính trong và ngoài nước cho quỹ bảo vệ môi trường sẽ dễ dàng hơn. Do đó, các quốc gia có thể tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ tài chính cho các dự án, các hoạt động phòng chống khắc phục ô nhiễm và suy thoái môi trường, giải quyết các vấn đề môi trường khác.

Thứ tư, sự hợp tác song phương và đa phương là một trong những giải pháp vô cùng cần thiết trong chiến lược, kế hoạch hành động bảo vệ môi trường của mỗi quốc gia. Và các hoạt động phát triển thương mại như tự do hóa thương mại hay mở của thương mại sẽ tạo ra bầu không khí tốt đẹp nhất cho những sự hợp tác đó. Hiện nay, các nội dung hợp tác đã đi vào chiều sâu, bao gồm hầu hết các lĩnh vực quản lý môi trường như đánh giá tác động môi trường, kiểm soát ô nhiễm, xử lý ô nhiễm hóa chất tồn lưu, bảo tồn đa dạng sinh học, BĐKH,… với các hình thức hợp tác đa dạng như viện trợ, cùng hợp tác giải quyết vấn đề,…

Trên cơ sở của những lập luận nêu trên, có thể kết luận rằng, hoạt động mở cửa thương mại có nhiều ưu điểm, góp phần tích cực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Chính vì vậy, các luật lệ, quy tắc thương mại cần cởi mở hơn nữa để thương mại phát huy hết tác dụng của mình đặc biệt là đối với việc bảo vệ môi trường.

2.2 Tác động tiêu cực

Những quan điểm đã đề cập ở phần trên đã cho thấy rằng, mở cửa thương mại có nhiều tác động tích cực tới môi trường. Tuy nhiên, những tác động xấu và những bất cập do hoạt động mở cửa gây ra cũng không thể phủ nhận. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, chuyên môn hóa sản xuất tập trung chủ yếu vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, do đó sẽ đẩy nhanh sự tàn phá đối với môi trường ở các quốc gia này. Ảnh hưởng tiêu cực của phát triển thương mại đối với môi trường tự nhiên diễn ra rất đa dạng, chúng được thể hiện cơ bản ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, mở cửa thương mại, đi kèm với những hạn chế và xóa bỏ các rào cản từ quá trình tự do hóa thương mại, phần nào đó khuyến khích các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển tăng cường khai thác những nguồn tài nguyên sẵn có để xuất khẩu như khoáng sản, thủy sản, nông lâm sản... Song, đi cùng với quá trình này là sự xuống cấp về môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Tình trạng này diễn ra hầu hết ở các nước đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa (Nguyễn Đức Khiển 2012).

Thứ hai, thương mại là cơ chế luân chuyển hàng hóa và dịch vụ sản xuất từ địa điểm này sang tiêu dùng tại những địa điểm khác. Đặc tính này tạo cho người tiêu dùng khả năng hưởng thụ các sản phẩm mà tại đất nước họ không có hoặc không có khả năng sản xuất. Song, nếu các hàng hóa thâm dụng tài nguyên thiên nhiên được sản xuất ồ ạt để xuất khẩu, được chú trọng nhiều hơn so với các loại hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng trong nước thì tăng cường mở cửa thương mại sẽ là nguyên nhân lớn gây suy thoái và hủy hoại môi trường ở quốc gia xuất khẩu đó.

Thứ ba, mở cửa thương mại sẽ khuyến khích gia tăng các hoạt động kinh tế ở mỗi quốc gia, nghĩa là nền kinh tế sẽ tiêu thụ nguyên nhiên liệu cũng như năng lượng nhiều hơn nhằm phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự tăng trưởng kinh tế liên tục theo mô hình này cũng là nguy cơ góp phần hủy hoại môi trường và làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.

Thứ tư, mở cửa thương mại làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường qua biên giới (xuyên quốc gia). Theo đó, ô nhiễm môi trường từ việc nhập khẩu công nghệ lạc hậu, hàng hóa không đảm bảo các yêu cầu về môi trường, du nhập các loài động thực vật ngoại lai, chất thải độc hại, buôn bán trái phép các loài động thực vật quý hiếm, bất bình đẳng trong chia sẻ lợi ích tài nguyên đa dạng sinh học…

Thứ năm, khi các hoạt động thương mại được đẩy mạnh dẫn đến việc mở rộng các hoạt động kinh tế. Điều này kéo theo nhiều thay đổi trong việc sở hữu đất đai, quyền tài sản cũng như hình thức sử dụng đất, và do đó trực tiếp hay gián tiếp đều đe dọa đến môi trường tự nhiên. Việc thay đổi cơ cấu sử dụng đất đai dẫn đến những mâu thuẫn xã hội trầm trọng và làm gia tăng các vấn đề môi trường cấp bách tại các nước đang phát triển. Trước kia, đất đai chỉ được xem là có giá trị khi dùng nó để trồng cây lương thực, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, vì thế nên đất đai được chia cho các hộ gia đình nhỏ. Ngày nay đất đai được biết đến như một nguồn thu ngoại tệ thông qua việc gieo trồng các loại cây có gía trị xuất khẩu cao, lập tức đất đai bị tước đoạt khỏi tay những người chủ cũ và được sử dụng cho mục đích thương mại. Một mặt, với mục đích tăng lợi nhuận, hàng loạt những hoạt động hủy hoại môi trường được sử dụng trong nông nghiệp như thâm canh tăng vụ, lạm dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học đã phá hủy cân bằng sinh thái, thúc đẩy nhanh quá trình bạc màu của đất. Mặt khác, nhiều người dân không còn đất đai di chuyển vào các khu vực rừng núi, đồi trọc hoang vu vốn không phù hợp với các hoạt động canh tác và gây phá hủy môi trường. Ngày nay, nhiều thảm họa môi trường thường được cho rằng do sự đói nghèo, cho các tập tục du canh du cư gây nên. Song nếu nhìn nhận trên một bình diện khác, đây chính là kết quả tất yếu của việc tước đoạt đất đai nhằm thu lợi nhận thông qua thương mại. Một minh chứng khác chính là nguy cơ trầm trọng đang đe dọa hệ sinh thái rừng ngập mặn là việc đốn chặt cây trên quy mô lớn sử dụng vào mục đích muôi trồng thủy sản xuất khẩu. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề ít được quan tâm khi nghiên cứu ảnh hưởng tiêu cực của thương mại đến môi trường (Nguyễn Đức Khiển 2012).

Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa thúc đẩy quá trình hội nhập, mở cửa thương mại góp phần tạo điều kiện cho các quốc gia và vùng lãnh thổ xích lại gần nhau, liên kết và có sự ảnh hưởng lẫn nhau. Mở cửa thương mại và gia tăng các vấn đề môi trường toàn cầu đã đặt ra yêu cầu làm rõ về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường trong quá trình hội nhập quốc tế. Mối quan hệ này là một trong những nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường bởi vì thương mại là nhân tố quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thông qua chỉ số E-I (Xuất khẩu - Nhập khẩu) trong GDP. Về cơ bản, việc sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ phụ thuộc vào môi trường tự nhiên thông qua các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Ngược lại, quá trình sản xuất, trao đổi, sử dụng cũng như thải bỏ hàng hóa và dịch vụ sẽ gây ra các tác động đến môi trường. Có thể nhận thấy, phần lớn tác động tiêu cực đến môi trường có nguyên nhân từ sự gia tăng các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, chỉ trong điều kiện mở cửa thương mại, việc sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ được gia tăng mạnh mẽ và mở rộng vượt qua lãnh thổ quốc gia, để phục vụ cho thương mại quốc tế thì tác động qua lại giữa thương mại và môi trường mới rõ nét. Hơn nữa, phát triển thương mại sẽ mang đến những tác động tích cực hay tiêu cực đối với bảo vệ môi trường phụ thuộc rất lớn vào các chính sách và tính hiệu quả của nó ở các nước sở tại.

---------------------------------------------------------------

Chú thích

(1) https://archive.unescwa.org/trade-openness-0

(2) Độ co giãn của cầu theo thu nhập (Income Elasticity of Demand) là sự thay đổi của lượng cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ khi thu nhập của người tiêu dùng thay đổi trong điều kiện các yếu tố khác giữ nguyên.

Tài liệu tham khảo

  1. Eiji Fujii, 2017, What Does Trade Openness Measure?, Oxford Bulletin of Economics & Statistics 81(4).
  2. Pritchett, L. , 1996, “Measuring Outward Orientation in the LDCs: Can It Be Done?”,Journal of Development Economics, 49: 309–55
  3. Hoàng Xuân Bình, 2011, “Mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, trường Đại học Ngoại thương
  4. Nguyễn Đức Khiển 2012, “Mối quan hệ giữa thương mại với môi trường”

 

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202