Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn lao động chất lượng cao

Cập nhật lúc: 31/12/2021 01:22:00 PM

1. Thực trạng nguồn lao động chất lượng cao nước ta giai đoạn 2011-2020

Trong giai đoạn 2011-2020, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đã có sự cải thiện tương đối tốt. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo liên tục tăng lên qua các năm, từ 15,4% vào năm 2011 đã tăng lên 22,8% vào năm 2019. Nguồn nhân lực nước ta trẻ và dồi dào, tốc độ tăng lao động chất lượng cao tương đối nhanh, tuy nhiên, quy mô nguồn lao động chất lượng cao vẫn còn nhỏ bé so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước (Năm 2019, trong tổng số 55,77 triệu người trong lực lượng lao động của cả nước, chỉ có khoảng 12,7 triệu lao động chất lượng cao, chiếm 22,8% lực lượng lao động), trong khi nhiều quốc gia trong khu vực như Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo, tỷ lệ này của họ đã đạt trên 50%.

Bên cạnh đó, phân bố nguồn lao động chất lượng cao còn có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn. Khoảng cách về trình độ, kỹ năng của lao động chất lượng cao tại khu vực thành thị và nông thôn đã có sự co hẹp dần theo thời gian, song vào năm 2019, tỷ lệ lao động chất lượng cao có việc làm tại thành thị vẫn gấp 2,66 lần so với tại khu vực nông thôn (năm 2010 khoảng cách này là 3,6 lần).

Bảng 1: Tỷ lệ lao động chất lượng cao theo giới tính và khu vực giai đoạn 2011-2020 (%)

Năm

Chung

Nam

Nữ

Thành thị

Nông thôn

2011

15,4

17,2

13,5

30,9

9,0

2012

16,6

18,6

14,5

31,7

10,1

2013

17,9

20,3

15,4

33,7

11,2

2014

18,2

20,4

15,8

34,3

11,2

2015

19,9

22,4

17,3

36,3

12,6

2016

20,6

23,0

18,0

37,2

12,8

2017

21,4

24,0

18,7

37,9

13,7

2018

22,0

24,4

19,4

37,3

14,7

2019

22,8

25,0

20,3

39,0

14,9

2020

24,1

26,9

20,9

39,7

16,3

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê các năm.

Trong các ngành kinh tế, ngành y tế và giáo dục và đào tạo có tỷ trọng lao động chất lượng cao lớn nhất (chiếm lần lượt 91,2% và 92,2% lao động của ngành trong năm 2019). Trong khi đó, công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành chủ lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì lao động chất lượng cao chỉ mới chiếm 17,8% lao động của ngành và tỷ lệ này lại có xu hướng giảm.

Bảng 2: Tỷ lệ lao động chất lượng cao theo giới tính và khu vực giai đoạn 2011-2020 (%)

Ngành kinh tế

2011

2015

2016

2017

2018

2019

2020

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

2,7

4,3

4,1

4,2

4,1

4,0

4,6

Công nghiệp chế biến, chế tạo

14,8

18,0

18,5

18,6

17,9

17,7

17,9

Thông tin và truyền thông

71,8

75,4

80,8

82,9

83,1

86,5

83,5

Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

78,8

82,9

82,9

81,0

85,4

86,0

85,1

Khoa học và công nghệ

73,0

76,0

81,4

78,4

82,6

80,2

81,9

Giáo dục và đào tạo

90,3

91,3

92,0

91,2

91,5

91,2

91,3

Y tế

86,9

89,1

87,8

90,2

91,1

92,2

89,8

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê các năm.

Trình độ của lao động chất lượng cao trong giai đoạn 2010-2019 có xu hướng tăng ở tất cả các bậc đào tạo gồm dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học trở lên. Trong đó, số lao động có trình độ cao đẳng và đại học trở lên tăng nhiều hơn cả. Nếu như trong năm 2010, số lao động có trình độ cao đẳng và đại học trở lên lần lượt là 1,7% và 5,7%; thì đến năm 2019, các tỷ lệ này tương ứng là 3,8% và 10,6%. Trong đó lao động có trình độ đại học trở lên tăng nhanh hơn hẳn và cũng là cấp chiếm tỷ trọng cao nhất. Đặc biệt, bậc trung cấp chuyên nghiệp từ năm 2015 trở lại đây lại có xu hướng giảm, từ chiếm 5,4% lực lượng lao động vào năm 2015 xuống còn 4,7% vào năm 2019. Bậc sơ cấp cũng không được nhiều người lao động lựa chọn nên có mức tăng thấp và tính ổn định không cao.

Xét về cơ cấu, có sự bất hợp lý trong cơ cấu trình độ của lực lượng lao động nước ta: lao động có trình độ cao đẳng và đại học trở lên chiếm quá nửa số lao động chất lượng cao (63,1%), và riêng đại học trở lên là 46,5%, trong khi trình độ trung cấp nghề chỉ khoảng 20,6%. Có thể nói, Việt Nam đang thiếu trầm trọng đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật có trình độ cao đẳng và trung cấp. Hay nói cách khác, đang thừa một lượng lớn lao động trình độ cao (từ đại học trở lên), điều này phản ánh mức độ trầm trọng của thực trạng "thừa thầy thiếu thợ "và sự mất cân đối về cơ cấu lao động qua đào tạo giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học hiện nay.

Về lao động chất lượng cao theo vùng, trong giai đoạn 2011-2020, tỷ lệ lao động chất lượng cao xếp thấp nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tiếp đến là Tây Nguyên, Trung du miền núi phía Bắc, Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng là vùng dẫn đầu cả nước về tỷ lệ lao động chất lượng cao. Đáng lưu ý là Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả nước nhưng lại được đánh giá là vùng “trũng giáo dục” của cả nước, đặc biệt là về lao động chất lượng cao (so với tỷ lệ chung cả nước, chênh lệch giữa dồng bằng sông Cửu Long với cả nước năm 2011 là 1,83 lần; đến năm 2020, khoảng cách này được thu hẹp chút ít nhưng vẫn là 1,61 lần).

Bảng 3: Tỷ lệ lao động chất lượng cao theo vùng, giai đoạn 2011-2020 (%)

Vùng

2011

2015

2016

2017

2018

2019

2020

Đồng bằng sông Hồng

21,1

28,7

29,3

29,7

29,6

32,4

32,6

Trung du và miền núi phía Bắc

13,6

17,6

17,6

18,1

18,4

18,2

20,5

Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung

14,4

19,5

19,7

20,5

21,3

21,5

22,7

Tây Nguyên

11,4

13,0

13,3

13,5

14,2

14,3

16,9

Đông Nam Bộ

22,5

25,4

26,2

27,5

28,0

28,1

29,5

Đồng bằng sông Cửu Long

7,8

11,7

12,2

12,9

13,4

13,3

14,9

Cả nước

14,3

20,4

20,9

21,6

22,0

22,8

24,1

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê các năm.

2. Giải pháp phát triển nguồn lao động chất lượng cao

Để phát triển nguồn lao động chất lượng cao, trong thời gian tới, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các bậc học, đặc biệt là bậc đại học, cao đẳng. Đây là giải pháp quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay. Ngay từ các bậc học, nhất là bậc học phổ thông trung học, giáo viên và phụ huynh học sinh phải định hướng tương lai cho con em mình trong việc chọn lựa ngành nghề phù hợp với năng lực, thế mạnh của bản thân. Từ đó, tập trung đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về một ngành, lĩnh vực mà mình yêu thích, có đầy đủ kiến thức, kỹ năng sau khi hoàn thành khoá học. Đặc biệt, các trường cao đẳng, đại học phải làm tốt công tác tuyển chọn, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với trình độ nhận thức của người học, đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ của xã hội, của quá trình hội nhập, mở cửa, phát triển nền kinh tế tri thức hiện nay. Chú trọng đến việc thực hành các thao tác, các bước của hoạt động lắp ráp, sản xuất kinh doanh, chuyển giao công nghệ; sử dụng thành thạo các trang thiết bị kỹ thuật, nhất là máy móc hiện đại, điều khiển từ xa, tự động hoá. Tiến hành rà soát lại chương trình đào tạo ở các trường; tăng cường thời gian học thực hành, giảm thời gian học lý thuyết; gắn quá trình đào tạo với hoạt động thực tập, tham quan, bắt tay vào công việc ở từng chuyên ngành đào tạo; đẩy mạnh các hoạt động hợp tác, liên doanh, liên kết giữa các trường, các chuyên ngành đào tạo với nhau, nhất là với các doanh nghiệp, nhà sản xuất, đầu tư, công ty; các cơ sở giáo dục cần phát triển hơn nữa vào các ngành nghề chất lượng cao: như lĩnh vực kỹ thuật số, công nghệ thông tin, năng lượng, vật liệu mới, công nghệ sinh học... để giúp người lao động có thể làm chủ khi cuộc cách mạng số hóa bùng nổ như hiện nay.

Hai là, có cơ chế, chính sách hợp lý, đồng bộ để thu hút, sử dụng đối với nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong mọi giai đoạn phát triển, vấn đề cơ chế, chính sách hợp lý, đồng bộ để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển của đất nước là rất quan trọng. Nếu không thu hút, lôi cuốn được nguồn nhân lực chất lượng cao, đất nước kém phát triển và ngược lại. Có thể thấy, cơ chế, chính sách sử dụng hợp lý, phù hợp với nguồn nhân lực chất lượng cao là sự ghi nhận, đánh giá của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, lực lượng có liên quan đối với những đóng góp của nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, cơ chế, chính sách đó là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào từng lĩnh vực, ngành nghề ở các vùng, miền và sự đóng góp đó cho sự phát triển ở mỗi đơn vị, doanh nghiệp không phải có sẵn theo một khung nhất định. Trên cơ sở nền tảng những quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước, Chính phủ về chính sách tiền lương, trọng dụng nhân tài, mỗi đơn vị, địa phương, doanh nghiệp căn cứ vào tình hình cụ thể của mình để hỗ trợ điều kiện vật chất, hoặc tạo điều kiện thuận lợi về môi trường công tác cho nguồn nhân lực chất lượng cao được phát huy thế mạnh, sở trường. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong việc phối hợp để xây dựng, ban hành quy chế sử dụng, làm việc đối với nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là các phòng, ban, sở nội vụ ở các cơ quan, đơn vị và địa phương; xây dựng môi trường văn hoá trong sáng, lành mạnh giữa người đứng đầu với cấp dưới. Đóng góp chung vào thành công của nhiệm vụ này này có vai trò quyết định của cả hệ thống chính trị, của nhân dân cả nước và cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có sự cống hiến của nguồn lao động chất lượng cao ngày đêm lao động, nghiên cứu, góp phần cho thành tựu chung của đất nước. Do đó, các cơ chế, chính sách cần bám sát thực tiễn đất nước, tình hình thế giới, yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời điểm, giai đoạn đặt ra để có sự điều chỉnh, bổ sung cho kịp thời với tình hình phát triển của từng ngành, lĩnh vực nói riêng và của cả đất nước nói chung. 

 Ba là, tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với nguồn nhân lực chất lượng cao. Bảo đảm sự quản lý của Nhà nước, điều hành của Chính phủ đối với việc sử dụng nguồn lao động chất lượng cao. Nhà nước là người ban hành cơ chế, chính sách đãi ngộ, sử dụng nguồn lao động chất lượng cao, do đó, Nhà nước cần phân cấp, giao nhiệm vụ cho các cơ quan liên quan quản lý nguồn lao động chất lượng cao một cách hiệu quả, không để xảy ra hiện tượng “chảy máu chất xám”. Cụ thể là xây dựng, ban hành các quy định, yêu cầu nguồn lao động chất lượng cao khi đào tạo xong phải làm việc ở trong nước, nếu vi phạm sẽ phải bồi thường; yêu cầu lao động chất lượng cao phải đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, toàn tâm, toàn ý phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước.

Bốn là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa môi trường làm việc với thực tiễn nền kinh tế - xã hội của đất nước. Trong những năm qua, kinh tế - xã hội nước ta có bước tăng trường khá cao, tương đối ổn định, nhưng do tác động của bối cảnh thế giới, khu vực và đặc biệt là đại dịch COVID-19 gần đây đã làm cho một số ngành, lĩnh vực, nhất là người lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tình hình đó, ảnh hưởng phần nào đến nguồn lao động chất lượng cao, theo đó, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa môi trường làm việc với điều kiện tế của mỗi ngành, lĩnh vực. Nguồn nhân lực chất lượng cao thường có biểu hiện tự cao, tự mãn, ít lắng nghe ý kiến đóng góp của người khác, hoặc có nghe chỉ mang tính chất chiếu lệ, tự mình quyết định mọi việc, không tôn trọng mọi người xung quanh. Do đó, trong quá trình làm việc, giải quyết các mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với mọi người xung quanh phải hài hoà, hợp lý, không đặt cái tôi cá nhân lên quá cao.

------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê các năm, Nxb Thống kê.

2. Nguyễn Thị Quỳnh Trang, 2017, Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế, Tạp chí Khoa học – Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh, Tập 14, số 2, 2017.

 

 

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202