Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Kinh nghiệm của một số quốc gia trong giảm thiểu ô nhiễm không khí và bài học cho Việt Nam

Cập nhật lúc: 31/12/2021 08:22:00 AM

1. Trung Quốc

* Xây dựng Kế hoạch và đặt mục tiêu

Năm 2013, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống và kiểm soát ô nhiễm không khí, tập trung vào việc kiểm soát ô nhiễm tại 3 vùng trọng điểm là khu vực Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc, sông Dương Tử và Đồng bằng sông Châu Giang.

Kế hoạch đề ra các mục tiêu cụ thể, như kiểm soát việc tiêu thụ than: Đến năm 2017, tỷ lệ than trong tổng tiêu thụ năng lượng tại Trung Quốc sẽ giảm xuống còn 65%, trong khi tỷ lệ tiêu thụ năng lượng tái tạo sẽ tăng lên 13%. 3 vùng trọng điểm phải nỗ lực để đạt được chỉ tiêu đặt ra về lượng than đá tiêu thụ mỗi năm, đổng thời, thay thế than đá bằng khí đốt sinh học cho nồi hơi đốt than, lò công nghiệp và các nhà máy điện đốt than. Kế hoạch này cũng đặt ra mục tiêu hàm lượng PM10 (bụi mịn đường kính 10 micromet trở xuống) tại các thành phố từ cấp địa khu trở lên phải giảm ít nhất 10% so với năm 2012, hàm lượng PM2.5 tại khu vực Kinh Tân Hà phải giảm khoảng 25%. Riêng đối với Bắc Kinh, hàm lượng PM2.5 phải giảm từ mức gần 90 xuống còn khoảng 60 microgram/m3 sau 5 năm.

* Xây dựng khung pháp lý, sửa đổi các điều Luật mạnh mẽ nhằm kiểm soát và cải thiện tình trạng ô nhiễm không khí

Chính phủ Trung Quốc đã ban hành Luật Phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK năm 1987, (sửa đổi năm 1995, 2000, 2015). Luật Phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK sửa đổi năm 2015 gồm 8 Chương, 129 Điều, ban hành với mục đích bảo vệ và cải thiện môi trường, ngăn ngừa và kiểm soát ÔNKK, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng sinh thái và tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội bền vững, quy định các cơ quan giám sát và quản lý việc phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK; các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK; đặc biệt là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương các cấp trong việc phòng ngừa và kiểm soát chất lượng môi trường không khí trong phạm vi quản lý của mình, đưa ra các tiêu chuẩn phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK; quy định về trách nhiệm pháp lý và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí.

-  Quy định cụ thể về trách nhiệm bảo vệ môi trường (BVMT) không khí 

Các cơ quan quản lý từ cấp huyện đến trung ương và các cơ quan khác có liên quan đến việc BVMT, phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK phải tích hợp việc phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình và tăng cường đầu tư tài chính trong vấn đề này (Điều 3).

Chính quyền địa phương các cấp phải chịu trách nhiệm về chất lượng không khí xung quanh trong khu vực mình quản lý, phải có trách nhiệm xây dựng kế hoạch để kiểm soát hay giảm dần lượng khí thải các chất ÔNKK sao cho chất lượng môi trường không khí xung quanh từng bước được cải thiện và đáp ứng tiêu chuẩn quy định. Cơ quan có thẩm quyền về quản lý và BVMT của chính quyền địa phương ở cấp tỉnh hoặc cao hơn phải giám sát và quản lý, theo tiêu chuẩn về phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK. Các cơ quan hành chính khác có liên quan khác của chính quyền địa phương ở cấp tỉnh hoặc cao hơn, trong chức năng và nhiệm vụ theo thẩm quyền của mình, phải giám sát và quản lý việc phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK (Điều 5).

- Công khai các tiêu chuẩn BVMT không khí, quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan liên quan đối với việc BVMT không khí

Để giải quyết các vấn đề môi trường không khí nghiêm trọng của Trung Quốc, sự tham gia của cộng đồng trong công tác phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK là rất quan trọng. Theo quy định của Luật Phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK năm 2015, cơ quan có thẩm quyền về quản lý và BVMT của chính quyền địa phương ở cấp tỉnh hoặc cao hơn phải giám sát và quản lý, theo tiêu chuẩn việc phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK. Các cơ quan có thẩm quyền về quản lý và BVMT cấp tỉnh hoặc cao hơn phải công bố trên trang website của mình các tiêu chuẩn về chất lượng môi trường không khí và tiêu chuẩn đối với việc thải các chất ô nhiễm vào khí quyển. Công chúng có thể đọc và tải các tiêu chuẩn đó miễn phí. Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ các nghiên cứu khoa học, công nghệ để áp dụng vào phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK (Điều 11).

Đối với các doanh nghiệp, các tổ chức, các nhà sản xuất và những người điều hành doanh nghiệp khi thực hiện các dự án, phải có đánh giá tác động môi trường không khí theo quy định của pháp luật và công bố các báo cáo đánh giá tác động môi trường (Điều 18). Đồng thời doanh nghiệp, các tổ chức, các nhà sản xuất và những người điều hành doanh nghiệp khi thải các chất ô nhiễm ra không khí phải tuân thủ các tiêu chuẩn xả thải chất ÔNKK phù hợp với quy định chung của nhà nước và các thiết bị xả khí phải được lắp đặt theo quy định của pháp luật và các quy định khác của Bộ BVMT (Điều 20).

- Quy định cụ thể các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK

Phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK gây ra bởi việc đốt than đá và năng lượng 

Các cơ quan có liên quan thuộc Quốc vụ viện và chính quyền địa phương các cấp cần có các các biện pháp để điều chỉnh cơ cấu năng lượng, thúc đẩy sản xuất và sử dụng năng lượng sạch; tối ưu hóa việc sử dụng than đá, giảm lượng khí thải gây ÔNKK trong quá trình sản xuất (Điều 32). Nhà nước cấm nhập khẩu, bán, đốt và sử dụng than không đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng do nhà nước quy định, khuyến khích đốt than chất lượng cao (Điều 35). Chính quyền địa phương các cấp cần có biện pháp tăng cường quản lý than phục vụ dân sinh, nghiêm cấm việc bán than không đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, khuyến khích sử dụng than chất lượng cao, các bếp lò tiết kiệm năng lượng (Điều 36).Các nhà máy nhiệt điện và các đơn vị sử dụng việc đốt than khác cần có các quy trình sản xuất sạch để khử lưu huỳnh hoặc các biện pháp khác như chuyển đổi công nghệ để kiểm soát việc phát thải các chất ô nhiễm ra không khí (Điều 37).

Phòng ngừa và kiểm soát ÔNKK gây ra do sản xuất công nghiệp

Các doanh nghiệp sản xuất thép, vật liệu xây dựng, kim loại màu, dầu khí và hóa chất có xả ra bụi, chất sulfua và oxit nitơ phải lắp đặt thiết bị để loại bỏ bụi, khử lưu huỳnh hoặc áp dụng các biện pháp nâng cấp công nghệ để kiểm soát việc xả chất ÔNKK (Điều 43). Các doanh nghiệp dầu mỏ, hóa chất và những nhà sản xuất và sử dụng các dung môi hữu cơ phải có biện pháp bảo dưỡng thường xuyên và sửa chữa đường ống, thiết bị nhằm giảm sự rò rỉ của vật liệu và phải xử lý kịp thời khi các thiết bị đó bị rò rỉ (Điều 47).

Phòng ngừa và kiểm soát chất ô nhiễm thải ra từ các phương tiện cơ giới và tàu thuyền

Các nhà sản xuất xe có động cơ phải tiến hành kiểm định khí thải đối với các sản phẩm mới của họ. Những sản phẩm này nếu không được kiểm định về khí thải, sẽ không được bán trên thị trường. Thông tin liên quan đến việc kiểm định khí thải phải được công bố công khai (Điều 52). Việc sản xuất, nhập khẩu và bán các loại xe có động cơ và tàu có thải các chất ô nhiễm trong không khí vượt quá giới hạn quy định đều bị cấm (Điều 51). Xe ô tô phải chịu sự kiểm tra thường xuyên của cơ quan kiểm định khí thải. Nếu không được kiểm định sẽ không được lưu hành. Nghiêm cấm sản xuất, nhập khẩu và bán các loại nhiên liệu không phù hợp cho các loại xe có động cơ và tàu, thuyền.

Phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm do bụi

Chính quyền địa phương các cấp cần tăng cường quản lý đối với các công trình xây dựng và hoạt động giao thông vận tải. Để ngăn ngừa và kiểm soát ÔNKK do bụi, chính quyền địa phương các cấp phải có trách nhiệm giữ cho đường sạch sẽ, xử lý rác thải, quản lý đường ống nước thải, mở rộng diện tích trồng cỏ trên vỉa hè (Điều 68) Đối với chủ đầu tư các dự án phải có dự toán các chi phí của việc ngăn ngừa ô nhiễm do bụi trong dự án và thỏa thuận với nhà thầu, quy định rõ trách nhiệm của nhà thầu nhằm ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm do bụi. Các nhà thầu xây dựng cần có kế hoạch cụ thể để ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm do bụi tại các công trường xây dựng (Điều 69). Nhà thầu xây dựng nhà ở, phát triển hạ tầng đô thị, cải tạo sông và phá dỡ các công trình, trước khi thi công phải báo cáo cho các cơ quan có thẩm quyền kế hoạch thi công các công trình đó để các cơ quan có thẩm quyền có thể giám sát và quản lý mức độ ô nhiễm bụi khi xây dựng, cải tạo các công trình.

2. Nhật Bản

* Xây dựng khung pháp lý và chính sách quản lý chặt chẽ

Tốc độ phát triển quá nhanh của các ngành, nghề sản xuất công nghiệp đã làm gia tăng những gánh nặng đối với môi trường, dẫn đến môi trường sống bị suy giảm, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sự phát triển của Nhật Bản. Tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường không khí và nước ngày càng gia tăng.

Trước thực trạng này, Chính phủ Nhật Bản đã phải tiến hành các giải pháp để cải thiện hệ thống pháp luật và thiết lập cơ quan quản lý nhà nước về môi trường

Từ năm 1993, hệ thống Luật Môi trường cơ bản đã được ban hành, đưa ra hệ thống kiểm soát ô nhiễm, bao gồm các chính sách và quy định về hệ thống kiểm soát ô nhiễm không khí, hệ thống kiểm soát ô nhiễm nước, các vấn đề ô nhiễm đất, các tiêu chuẩn quốc gia về chất độc hại; hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng môi trường; những biện pháp kiểm tra và kiểm soát nghiêm ngặt môi trường sản xuất công nghiệp; các quy định về trách nhiệm của cơ sở gây ô nhiễm…

Trong hệ thống kiểm soát ô nhiễm, quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí (Luật Kiểm soát ô nhiễm không khí) tập trung vào 3 nội dung chính: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí; các tiêu chuẩn và quy định phát thải; tổng lượng ô nhiễm ở các thành phố, tiêu chuẩn kiểm soát tổng lượng phát thải, tiêu chuẩn về xây dựng, về đường biên và tiêu chuẩn đối với các nồng độ trong môi trường không khí. Đồng thời, Luật còn đề cập đến những biện pháp ứng phó với các chất ô nhiễm không khí nguy hại, kiểm soát các nguồn lưu động, quy định về các phương tiện vận tải chạy trên đường.

* Sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng và các tổ chức xã hội

Bên cạnh một hệ thống chính sách kiểm soát ô nhiễm nghiêm ngặt, Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, cũng như nhân dân Nhật Bản rất nỗ lực trong việc làm sạch môi trường. Khắp mọi nơi, đâu cũng có các thông điệp về bảo vệ môi trường, tràn ngập trên các dãy phố, trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, tác động vào nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản về tình yêu đối với môi trường và cuộc sống, vì một màu xanh cho thế hệ mai sau.

Trong thời kỳ đầu của tăng trưởng kinh tế tại Nhật Bản, khu vực tư nhân hầu như không tham gia vào các hoạt động quản lý ô nhiễm và phát triển đô thị. Tuy nhiên, sau một loạt các vụ việc liên quan đến pháp lý cùng với các chính sách hỗ trợ tài chính cho các giải pháp môi trường đã nhanh chóng thay đổi thái độ của doanh nghiệp đối với vấn đề ô nhiễm và quản lý đô thị. Kết quả là, tổng số tiền đầu tư của khu vực tư nhân vào các cơ sở kiểm soát ô nhiễm tăng lên đáng kể. Họ cũng nhận ra rằng quản lý ô nhiễm môi trường là trách nhiệm xã hội và thực hiện có hiệu quả có thể nâng cao kinh doanh của họ. Các doanh nghiệp đã phát triển các công nghệ và bí quyết về chống ô nhiễm môi trường và tiết kiệm năng lượng.

* Phổ cập giáo dục về bảo vệ môi trường

Người Nhật khi đi làm việc thường mang theo một ba lô hoặc túi xách bằng giấy, có cả ngăn chứa rác. Họ còn tỉ mẩn phân loại giấy bỏ, chai nhựa, vỏ lon nước ngọt đã bị đập bẹp vào từng thùng rác khác nhau. Sở dĩ như vậy là nhiều người đi làm cũng kiêm luôn nhiệm vụ mang rác của gia đình đến nơi thu gom theo đúng lịch. Người dân Nhật Bản không có thái độ e ngại khi sử dụng lại đồ cũ, hàng tái chế. Việc làm này có được do ý thức giáo dục từ nhỏ. Từ khi ngồi trên ghế nhà trường, mọi học sinh đều phải tham gia các trò chơi tập thể và chơi thể thao trong phòng tập, nhà thể chất và mọi công việc mà ai cũng cho là việc dĩ nhiên phải làm đó là thu dọn đồ và lau sàn. Các trường học không hề có nhân viên dọn dẹp, mà học sinh Nhật Bản thường tự quét, lau dọn phòng học, cửa kính, cầu thang… khoảng 30 phút mỗi ngày.

Ý thức quyết định hành động, Nhật Bản chọn cách giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho công dân ngay từ bậc học nhỏ tuổi nhất, nên trong từng hành động của người dân Nhật Bản luôn luôn thể hiện được tình yêu trách nhiệm với thiên nhiên và môi trường sống.

3. Hàn Quốc

*  Xây dựng Cơ sở pháp lý về kiểm soát ÔNKK 

Ngoài các Đạo Luật chung về quản lý môi trường liên quan đến chất thải, trong đó có khí thải gồm Đạo luật Chính sách Môi trường Cơ bản năm 2017, Đạo luật Quản lý chất thải năm 2017, Hàn Quốc còn ban hành các Đạo luật trực tiếp liên đến kiểm soát ô nhiễm khí thải gồm: Đạo luật Bảo tồn không khí sạch năm 2019 (Ban hành lần đầu từ năm 1990, sau đó sửa đổi năm 2016 và năm 2019), Đạo luật đặc biệt về cải thiện chất lượng không khí ở khu vực đô thị Seoul năm 2017.

Đạo luật đặc biệt về cải thiện chất lượng không khí ở khu vực thủ đô Seoul năm 2017 (Act No. 15274) quy định chặt chẽ về quản lý giảm thiểu bụi mịn. Đạo luật gồm 46 Điều, 8 chương gồm các nội dung: Quy định chung; Công thức, phân loại và các kế hoạch chủ yếu để kiểm soát chất lượng không khí khu đô thị; Kiểm soát tổng phát thải chất ô nhiễm khu vực kinh doanh; Kiểm soát xả thải của xe ô tô; Bãi bỏ một số quy định cũ; Bảo đảm quản lý và nguồn lực tài chính; Các điều khoản bổ sung (Giáo dục, bảo tồn chất lượng không khí; Báo cáo, kiểm tra; Điều trần; Phí,…); Quy định xử phạt. Năm 2017, Hàn Quốc cũng đã ban hành Nghị định thi hành hành động đặc biệt về cải thiện chất lượng không khí ở khu vực thủ đô Seoul. Nghị định này quy định các vấn đề được ủy quyền bởi Đạo luật Đặc biệt về cải thiện chất lượng không khí ở khu vực thủ đô Seoul và các vấn đề cần thiết để thực thi.

 Phân định chức năng kiểm soát ÔNKK

 Bộ Môi trường Hàn Quốc có nhiệm vụ giám sát và điều chỉnh lượng khí thải gây ONKK, các chất độc hại trong không khí theo Đạo luật Bảo tồn không khí sạch và cũng có thể chỉ định một số thành phố là khu vực kiểm soát ÔNKK, sau đó yêu cầu các chính quyền địa phương lập kế hoạch quản lý môi trường. Các Văn phòng môi trường khu vực ở cấp địa phương có chức năng xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý kiểm soát ÔNKK trong các lĩnh vực trên địa bàn quản lý, giám sát việc tuân thủ sự đảm bảo về môi trường của chính quyền địa phương. Người đứng đầu các cơ quan Chính phủ liên quan đến phát triển khu vực, công nghiệp, giao thông vận tải và năng lượng, nông nghiệp… theo quy định phải tham vấn cho Bộ Môi trường về các hậu quả môi trường trong các quyết định hoạch định chính sách. Hội đồng Chính sách Chính phủ có chức năng điều phối chính sách chung giữa chính quyền Trung ương và địa phương. Ủy ban về các biện pháp đặc biệt đối với bụi mịn đóng vai trò như một "tháp kiểm soát" để cân nhắc và điều phối các vấn đề bụi mịn được xác định trong toàn Chính phủ. Viện Nghiên cứu Môi trường Quốc gia có chức năng theo dõi nồng độ PM10, PM2.5 và ozon trên phạm vi toàn quốc.

* Thực thi thúc đẩy kiểm soát ÔNKK

  Năm 2019, Chính phủ Hàn Quốc đã quy định phân loại ONKK quốc gia là “thảm họa xã hội” và cho phép kích hoạt các quỹ cứu trợ khẩn cấp, biện pháp xử lý phát thải theo mùa, có hiệu lực từ tháng 12/2019 đến tháng 3/2020. Các biện pháp này bao gồm đóng cửa ¼ các nhà máy nhiệt điện than; giới hạn hoạt động tại các nhà máy nhiệt điện than khác ở mức 80%; hạn chế lưu thông đối với các loại xe phát thải cấp 5 ở các khu vực đô thị; thắt chặt các tiêu chuẩn chất lượng không khí và tăng cường năng lực thanh tra, thực thi của địa phương. Đồng thời, sự thay đổi trong việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong công nghiệp, sản xuất và vận tải là điều cần thiết để giải quyết ô nhiễm bụi hiệu quả hơn trong lâu dài.

 Đến tháng 3/2020, sau khi đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp kích hoạt khẩn cấp để kiểm soát ONKK và trong bối cảnh giãn cách xã hội do covid 19 cho thấy, mức độ trung bình của PM2.5, PM10, NO2 và CO đã giảm trên toàn quốc so với mức trung bình của năm 2019 là 16,98 μg/m3 , 21,61 μg/m3, 4,16 ppb và 0,09 ppm, tương ứng giảm lần lượt là 45,45%, 35,56%, 20,41% và 17,33%. Đặc biệt, Chính phủ trợ cấp cho việc mua các phương tiện thân thiện với môi trường gồm ô tô điện và ô tô chạy bằng hydro. Các hệ thống đo lường phát thải di động sẽ được sử dụng để kiểm tra xem một thiết bị mới (xe) được sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải trước khi được bán.

4. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trước vấn nạn về ÔNKK tại Việt Nam hiện nay và cách giải quyết tình trạng ÔNKK tại các nước có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau

Thứ nhất, xây dựng Chương trình hành động cấp quốc gia chống và cải tạo tình trạng ÔNKK là điều kiện tiên quyết. Chương trình hành động này cần phải xác định những nguồn nào gây ra ô nhiễm và đặt ra mục tiêu chi tiết, cụ thể cho các địa phương, đặc biệt ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nơi đang bị ô nhiễm nặng nề nhất, giảm những loại khí độc hại nào và bao nhiêu, để đảm bảo môi trường sinh thái đạt mức tiêu chuẩn của các nước phát triển trên thế giới.

Thứ hai, cải cách hệ thống pháp luật và quy định liên quan đến bảo vệ và kiểm soát môi trường. Thực tế việc thực thi pháp luật còn khá lỏng lẻo, mang tính hình thức, chưa nghiêm túc, cho nên hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó, một số tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường chưa nghiêm túc trong việc kịp thời khắc phục các sự cố môi trường. Hơn nữa, ô nhiễm không khí có đặc thù khuyến tán rộng, nên rất khó xác định trách nhiệm, phạm vi xử lý…Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh tăng cường pháp chế về bảo vệ môi trường nói chung, môi trường không khí nói riêng. Các văn bản pháp luật cần quy định rõ hơn về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường không khí của các cơ quan, tổ chức cá nhân. Đặc biệt, cần có chế tài xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để răn đe và đề cao tính thượng tôn pháp luật liên quan đến lĩnh vực này. Bổ sung, cập nhật các quy định mới, bộ luật mới phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, kịp thời giải quyết những vấn đề mới phát sinh. Bên cạnh đó, cần phải công khai minh bạch các chính sách mới được sửa đổi, bổ sung để phù hợp tình hình thực tiễn

Thứ ba, Chính phủ cần dành một khoản ngân sách riêng cho việc xử lý ONKK, không nên để nguồn ngân sách cho việc bảo vệ môi trường một cách chung chung. Ngân sách này sẽ giải ngân theo các giai đoạn chiến lược dựa vào những mục tiêu đặt ra trong Chương trình cấp quốc gia chống và cải tạo tình trạng ONKK. Theo kinh nghiệm của Đức, Chính phủ Đức đã có khoản ngân sách lên tới 1,5 tỷ euro dành cho chương trình “Cleaner Air” (Không khí sạch hơn) trong giai đoạn 2017-2020 do sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô và sự phổ biến của dòng o tô sử dụng động cơ chạy bằng dầu diesel.

Thứ tư, minh bạch thông tin ô nhiễm đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Thông tin công bố rộng rãi đồng thời gây sức ép lên chính quyền địa phương, buộc họ phải thực hiện nhiệm vụ quyết liệt hơn.

Thứ năm, chú trọng thực hiện các biện pháp khoa học kỹ thuật để kiểm soát ô nhiễm không khí như: Xây dựng các trạm quan trắc hiện đại hơn, trang bị những thiết bị xử lý số liệu môi trường tự động, ứng dụng công nghệ thông tin… Tiếp tục thiết lập thêm các hệ thống quan trắc tại các điểm tập trung đông người trên địa bàn. Trên cơ sở thông tin thu được, cần xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, di rời các nhà máy gây ô nhiễm ra khỏi khu đông dân cư, thậm chí xóa bỏ nếu cần thiết.

Ngoài ra, thực hiện biện pháp xử lý phát thải theo mùa như đóng cửa một số nhà máy nhiệt điện than; giới hạn các hoạt động tại các nhà máy nhiệt điện than khác ở mức công suất vừa phải, hạn chế lưu thông đối với các loại xe phát thải ở các khu vực đô thị…

Thứ sáu, xây dựng các biện pháp cụ thể, các chế tài nghiêm ngặt kiểm soát không khí theo từng nguồn thải như giao thông, công nghiệp, xây dựng... Kinh nghiệm thực tế cho thấy với những biện pháp cứng rắn, xử phạt nghiêm minh mới có thể ngăn chặn và hạn chế tình trạng gây ô nhiễm

Thứ bảy, lực lượng chức năng, trong đó có lực lượng Công an cần tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật môi trường của các cơ quan, doanh nghiệp có liên quan, kịp thời phát hiện những hành vi cố tình vi phạm quy định về bảo vệ môi trường. Lực lượng Cảnh sát môi trường cần tăng cường công tác điều tra cơ bản, nắm tình hình địa bàn quản lý, kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, đặc biệt là tác nhân gây ra ô nhiễm không khí để kịp thời tham mưu, đề xuất, có biện pháp xử lý nghiêm khắc, triệt để các hành vi vi phạm.

Thứ tám, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cá nhân, tổ chức về bảo vệ môi trường không khí thông qua truyền thông, báo chí và đưa vào các chương trình học ngay từ trình độ mẫu giáo.

Cuối cùng, trong hoạt động, giao thông vận tải, cải tạo, phát tiển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị, cần ưu tiên nâng cấp hệ thống giao thông công cộng nhằm giảm bớt số lượng phương tiện cá nhân. Khuyến khích sử dụng nhiên liệu sạch cho phương tiện giao thông. Lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra thường xuyên, không cấp giấy phép lưu hành đối với các phương tiện giao thông quá niên hạn.

---------------------------------------

Tài liệu tham khảo

  1. IQAir, 2020: “Báo cáo Chất lượng Không khí Thế giới năm 2020”
  2. Bộ TN-MT, 2020. “Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam”, Cổng thông tin điện tử Bộ TN-MT, 19/5/2020.
  3. Amann M. và cộng sự, 2018. “Future air quality in Ha Noi and northern Vietnam”. VAST-IIASA.
  4. TTXVN, 2020. “Ô nhiễm không khí ở Việt Nam gây thiệt hại ít nhất 10,8 tỷ USD mỗi năm”. Việt Nam Plus.
  5. CEM, 2020: “Ô nhiễm không khí ở Hà Nội: 20 năm nghiên cứu”, Trung tâm quan trắc môi trường Miền Bắc - Tổng cục Môi trường.
  6. AirVisual, 2021: “World’s most polluted cities in 2020 (PM 2.5)”.
  7. MT, 2020. “Thành phố Hồ Chí Minh: Tăng cường kiểm soát khí thải từ xe máy”, Cổng thông tin điện tử Bộ Giao thông vận tải, 12/8/2020.

 

 

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202