Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Ngành gốm, sứ thủy tinh Việt Nam và tác động của Tác động của COVID19 đến ngành

Cập nhật lúc: 26/12/2021 10:25:00 AM

1. Năng lực cạnh tranh của ngành

Nhóm ngành gốm, sứ, thuỷ tinh là nhóm ngành có tính chất đặc thù và năng lực cạnh tranh khá khiêm tốn. Năm 2019, ngành gốm, sứ, thủy tinh có khoảng 581 doanh nghiệp với quy mô trung bình khoảng 61 lao động/doanh nghiệp. Đa số doanh nghiệp trong ngành gốm, sứ, thuỷ tinh là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ với quy mô dưới 10 lao động (96%), chỉ 1% doanh nghiệp có quy mô vừa và 2% doanh nghiệp trong ngành có quy mô lớn. Các doanh nghiệp trong ngành hầu hết đều là doanh nghiệp tư nhân (chiếm hơn 95%), trong khi đó, doanh nghiệp FDI chỉ khoảng 4%. Các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chủ yếu phục vụ thị trường trong nước. Việc tham gia vào xuất khẩu của các doanh nghiệp trong ngành không cao (chỉ có 6% số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu). Các doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu chủ yếu là doanh nghiệp FDI, chỉ có 3% doanh nghiệp ngoài nhà nước có tham gia vào xuất khẩu, và đặc biệt không có DNNN nào tham gia vào xuất khẩu.

Về năng suất lao động, so sánh với các ngành trong ngành chế biến chế tạo, ngành gốm, sứ, thuỷ tinh có năng suất lao động thấp hơn do trình độ công nghệ cũng như trình độ lao động chưa cao. Đa số lao động trong ngành là những lao động chưa qua đào tạo (50,1%), có 21% lao động có trình độ sơ, trung cấp và chỉ có 14% lao động có trình độ cao đẳng, đại học.

Về xuất nhập khẩu, ngành gốm, sứ, thủy tinh không phải là ngành có thế mạnh về xuất khẩu của Việt Nam. Tỷ trọng xuất khẩu của ngành gốm, sứ, thủy tinh chỉ chiếm 0.05% (năm 2020) tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đối với phân ngành gốm, sứ, kim ngạch xuất khẩu có xu hướng tăng dần giai đoạn 2016-2021. Kim ngạch xuất khẩu gốm, sứ năm 2020 đã tăng lên 554,17 triệu USD từ mức 428,8 triệu USD năm 2016, tăng 29%.  Xuất khẩu gốm sứ sang thị trường EU-27 trong năm 2020 đạt 70,2  triệu USD tăng 7% so với năm 2019 và tăng 19% trong giai đoạn 2016-2020 (Bảng 1).

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu gốm sứ của Việt Nam sang một số quốc gia/khu vực giai đoạn 2016-2020

 

EU27

Anh

Mỹ

Nhật Bản

Trung Quốc

Hàn Quốc

ASEAN

Phần còn lại của TG

Tổng

2016

63,75

22,25

52,03

69,58

5,04

16,15

91,44

108,55

428,78

2017

66,60

24,68

65,22

73,13

7,96

17,41

96,76

107,94

459,70

2018

68,38

21,94

77,23

78,57

17,08

21,75

115,90

79,60

480,45

2019

70,17

25,88

94,61

72,23

22,23

28,71

124,33

80,25

518,40

2020

72,96

29,57

108,69

78,78

30,80

34,16

107,58

91,61

554,17

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp từ nguồn số liệu UNCOMTRADE.

Năm 2020, dẫn đầu trong số hơn 30 thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của Việt Nam thì 4 thị trường Mỹ, ASEAN, EU-27 và Nhật Bản chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu gốm sứ của Việt Nam. Xuất khẩu gốm sứ sang thị trường Mỹ luôn dẫn đầu về kim ngạch chiếm gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng của cả nước, đạt 108,69 triệu USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2019. Đứng thứ hai là thị trường các nước ASEAN với 19% tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này (Hình 1).

Hình 1: Tỷ trọng xuất khẩu của mặt hàng gốm, sứ của Việt Nam sang các đối tác lớn năm 2020

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp từ nguồn số liệu UNCOMTRADE.

Đối với phân ngành sản xuất thuỷ tinh và các sản phẩm từ thuỷ tinh lại có xu hướng sụt giảm trong giai đoạn 2017-2020. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ tinh và sản phẩm từ thuỷ tinh giảm xuống  881,41 triệu USD năm 2020 từ mức 1033,3 triệu USD năm 2017. Trong giai đoạn 2017-2020, cơ cấu thị trường xuất khẩu cũng có xu hướng thay đổi, các thị trường có xu hướng sụt giảm kim ngạch xuất khẩu nhiều nhất đó là thị trường Hàn Quốc (giảm từ 130 triệu USD xuống còn 15 triệu USD), thị trường Trung Quốc (giảm từ 66,8 triệu USD xuống còn 32,9 triệu USD), thị trường Nhật Bản ( giảm từ 89 triệu USD xuống còn 47 triệu USD). Trong khi đó, một số thị trường lại có kim ngạch xuất khẩu tăng nhẹ (Mỹ, EU và ASEAN) (Bảng 2)

Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ tinh và các sản phẩm từ thuỷ tinh của Việt Nam sang một số quốc gia/khu vực giai đoạn 2017-2020

 

EU27

Mỹ

Nhật Bản

Trung Quốc

Hàn Quốc

ASEAN

Phần còn lại của TG

Tổng

2017

12,51

65,33

89,82

66,68

130,55

578,95

88,58

1033,37

2018

10,33

64,38

95,14

37,92

99,12

627,73

64,88

1001,39

2019

10,72

66,12

99,39

20,53

28,68

582,63

38,29

848,51

2020

12,83

80,51

47,23

32,92

15,72

649,85

40,65

881,41

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp từ nguồn số liệu UNCOMTRADE.

Mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, năm 2020, kim ngạch xuất khẩu ngành thuỷ tinh đạt 881,4 triệu USD, tăng 32% so với năm 2019. Những thị trường Việt Nam xuất khẩu thuỷ tinh và sản phẩm thuỷ tinh nhiều nhất đó là ASEAN (73%). Trong đó, Singapore và Malaysia là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của mặt hàng thuỷ tinh. Chỉ riêng xuất khẩu sang Singapore đã đạt 442, 88 triệu USD, chiếm gần 50% tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thuỷ tinh của Việt Nam.

Thị trường EU chưa phải là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam đối với mặt hàng này. Tỷ trọng xuất khẩu sang EU chỉ chiếm 1,46% tổng kin ngạch xuất khẩu nhóm hàng thuỷ tinh, nếu tính cả thị trường Anh con số này cũng rất khiêm tốn chỉ là 1,65%.

2. Tác động của COVID19 đến ngành

 Đại dịch COVID-19 có ảnh hưởng đến hầu hết các ngành do sự gián đoạn chuỗi cung ứng và giảm cầu. Tuy nhiên, với đặc điểm là một ngành có tỷ trọng xuất khẩu thấp, nguồn nguyên liệu đầu vào chủ yếu từ trong nước do đó ngành gốm, sứ, thuỷ tinh không bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch bệnh. Xuất khẩu năm 2020 toàn ngành vẫn tăng 5% so với năm 2019. Trong 10 tháng đầu năm 2021, mặc dù tình hình dịch bệnh diễn ra phức tạp hơn song kim ngạch xuất khẩu gốm, sứ, thuỷ tinh đã tăng từ 17 đến 32% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ đạt 541,4 triệu USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2020 và kim ngạch xuất khẩu thuỷ tinh và các sản phẩm từ thuỷ tinh đạt 945,72 triệu USD tăng 32%, so với cùng kỳ năm 2020.


 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế Ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202