Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam tháng 10 năm 2021 và dự báo năm 2021

Cập nhật lúc: 09/11/2021 09:29:00 AM

1. Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10/2021

Tình hình dịch Covid-19 trong tháng 10 cơ bản được kiểm soát, số người mắc và số người tử vong do dịch bệnh những ngày qua liên tục giảm. Cuộc sống đang dần trở về trạng thái bình thường mới, đến trung tuần tháng 10/2021, một số địa phương bắt đầu gỡ bỏ giãn cách xã hội, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội đang được khôi phục và ngày càng sôi động hơn. Mặc dù vậy, dịch bệnh vẫn đang có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phục hồi của nền kinh tế.

Đầu tư trong nước tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề của làn sóng Covid-19 diễn ra trên khắp cả nước, giải ngân vốn đầu tư công chậm, FDI thực hiện duy trì ở mức thấp. Theo số liệu của Bộ Tài chính, giải ngân vốn đầu tư công ước tính đến đầu tháng 10/2021 chỉ đạt hơn 47% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn so với vùng kỳ năm 2020 (là 56,3%). Đặc biệt, tỉ lệ giải ngân vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài rất thấp, chỉ đạt 9,8% trong tổng số 51.550 tỷ đồng được giao trong năm nay. Nhiều bộ ngành và địa phương xin trả lại vốn đầu tư công vay nước ngoài do không thể giải ngân (lên tới 8 nghìn tỷ đồng). Nguồn vốn FDI cũng chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh, theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, số vốn FDI thu hút trong 9 tháng đầu năm 2021 chỉ tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, tăng 20,6% về vốn đăng ký cấp mới và 25,6% về vốn tăng thêm nhưng giảm tới 43,8% về vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần.

Xuất khẩu hàng hoá tăng trở lại khi các tỉnh nới lỏng các biện pháp kiểm soát dịch bệnh và các doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tháng 10/2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ước đạt 28,7 tỷ USD, tăng 6.3% so với tháng 9/2021. Tính chung cho cả 10 tháng đầu năm, xuất khẩu vẫn đạt mức 269 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2020. Mức tăng trưởng này chủ yếu là từ nhu cầu mạnh mẽ của Mỹ và Trung Quốc, cùng với sự phục hồi nhu cầu tại các thị trường EU, ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng trưởng mạnh xuất khẩu gồm: máy tính và điện tử; điện thoại; giày dép và hàng dệt may.

Hoạt động bán lẻ hàng hóa và dịch vụ bắt đầu hồi phục, tuy thấp hơn cùng kỳ năm trước. Dự kiến tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng 10 sẽ có sự tăng trưởng mạnh so với tháng 9 do việc dừng các biện pháp giãn cách. Các cửa hàng được phép mở cửa, hoạt động đi lại trở nên thuận tiện hơn do đó hỗ trợ các hoạt động tiêu dùng. Tuy vậy, hậu quả từ đợt giãn cách kéo dài là tình trạng thất nghiệp tăng cao, sự mất cân bằng thị trường lao động dẫn đến tình trạng thu nhập của người lao động vẫn còn rất bấp bênh, những yếu tố này ảnh hưởng mạnh đến tâm lý tiêu dùng của người dân và tâm lý tiết kiệm còn rất lớn.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hiện đang ở mức thấp, sang tháng 10, giá dầu thế giới tiếp tục tăng cao khiến giá xăng trong nước đã được điều chỉnh tăng lần theo diễn biến giá dầu thế giới, việc nới lỏng giãn cách xã hội, lưu thông hàng hóa phục hồi khiến cho giá thực phẩm có xu hướng giảm, dự báo CPI tháng 10 sẽ tăng nhẹ khoảng 0,01% so với tháng trước. Như vậy, tính đến hết tháng 10, dự báo chỉ số CPI tăng khoảng 1,9% so với tháng 12 năm trước và CPI bình quân tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước.

Cán cân vãng lai của Việt Nam đã chuyển sang tình trạng thâm hụt vào quý II/2021 (-4,596 tỷ USD), theo đó là dự trữ ngoại hối giảm mạnh. Tình trạng này xuất phát chủ yếu từ việc xuất khẩu giảm thấp do chuỗi cung ứng và sản xuất đứt gãy nghiêm trọng trước làn sóng dịch COVID-19 lần thứ 4, trong khi nhập khẩu vẫn tiếp tục tăng mạnh; cán cân xuất nhập khẩu dịch vụ tiếp tục tác động tiêu cực do việc đóng cửa biên giới với hầu hết du khách quốc tế. Việc duy trì tỷ giá thấp có thể khiến xuất khẩu kém thuận lợi hơn; trong khi ở chiều nhập khẩu, đồng NDT đang trong xu hướng mất giá mạnh, nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc có thể gia tăng do giá hàng hóa Trung Quốc rẻ đi đáng kể.

Tỷ giá USD/VND hiện đang giảm thấp nhất trong 3 năm qua, đồng VND đang lên giá mạnh so với đồng USD. So với đầu năm 2021, tại thời điểm tháng 10/2021, VNĐ đã tăng giá khoảng 1,5% so với đồng USD. VND đang là một trong số ít các loại tiền tệ trong khu vực đã tăng giá so với USD từ đầu năm đến nay. Việc giữ giá đồng VND ở mức cao giúp Việt Nam chủ động hơn trong kiểm soát nhập khẩu lạm phát, đồng thời thuận lợi hơn cho nhập khẩu đáp ứng nhu cầu phục hồi sản xuất kinh doanh, song cũng sẽ gây tác động tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu[1].

Tình hình lao động, việc làm trong nước quý III/2021 đối mặt với tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng khi chịu nhiều tác động tiêu cực bởi dịch Covid-19 lần thứ 4 bùng phát trở lại từ cuối tháng 4/2021. Lao động có việc làm trong cả nước quý III/2021 tiếp tục giảm sâu chưa từng thấy từ trước tới nay. Lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài trong những tháng cuối và cả năm 2021 dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn, khó đạt mục tiêu đề ra.

2. Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý 4 và cả năm 2021

Trong bối cảnh hồi phục kinh tế, đặc biệt của các đối tác thương mại và đầu tư lớn của Việt Nam trong hiện tại, có thể thấy, nhu cầu về thương mại cũng như cơ hội về đầu tư đối với Việt Nam trong năm 2021 là không nhỏ. Trong tháng 9/2021, với động thái chuyển đường lối điều hành từ zero-Covid sang thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19[2], để vừa phòng chống dịch có hiệu quả, vừa khôi phục và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, cũng như các động thái tích cực đối thoại nhằm gỡ khó cho doanh nghiệp[3], cho thấy quyết tâm trong điều hành của Việt Nam nhằm thúc đẩy tăng trưởng, thực hiện mục tiêu kép trong năm 2021.

Tuy vậy, với mức độ ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh đến nền kinh tế trong quý III/2021, tình hình dịch bệnh vẫn còn phức tạp, đặc biệt tại các đầu tầu kinh tế cả nước, các khu công nghiệp và thành phố lớn, Việt Nam cần nỗ lực lớn để có thể tận dụng được các cơ hội về thương mại và đầu tư này. Một số khó khăn, thách thức trong thời gian tới có thể kể đến:

- Trên thế giới, đại dịch sẽ còn tiếp tục kéo dài dẫn đến làm chậm hoặc thậm chí đảo chiều hồi phục kinh tế thế giới; khả năng thắt chặt các điều kiện tài chính toàn cầu có thể diễn ra sau khi nhiều nước thực hiện các biện pháp kích thích tài khóa quy mô lớn và các biện pháp nới lỏng tiền tệ chưa từng có nhằm hỗ trợ phục hồi tăng tưởng kinh tế trước tác động của đại dịch  COVID-19, điều này không những làm hạn chế dòng vốn đầu tư và thương mại toàn cầu mà còn có thể tác động đến tỷ giá tiền đồng và dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Rủi ro về giá cả và lạm phát thế giới có thể chưa gây sức ép lạm phát cao trong nước nhưng cản trở việc thực hiện chính sách hỗ trợ tăng trưởng, hồi phục nền kinh tế.

- Trong nước, rủi ro về gián đoạn chuỗi cung ứng, lao động, dòng tiền và tiếp cận khách hàng, đặc biệt ở thành phố và khu công nghiệp phía Nam có thể ảnh hưởng tới tiến độ đầu tư và sản xuất, đáp ứng các đơn hàng. Trong bối cảnh giá cước vận chuyển vẫn tiếp tục tăng và hệ thống cảng biến thế giới đang khủng hoảng, các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu Việt Nam sẽ tiếp tục chịu những ảnh hưởng tiêu cực do tình trạng gián đoạn, chậm trễ vận chuyển. Ảnh hưởng này càng nghiêm trọng hơn trong bối cảnh giá nhiều nguyên vật liệu khác tăng cao. Với các doanh nghiệp trong nước, nguy cơ bị thay thế là rất lớn nếu không đảm bảo được sự liền mạch trong chuỗi sản xuất hàng hóa. Các doanh nghiệp FDI có thể tìm kiếm các nhà cung cấp khác thay thế nếu nhà cung ứng trong nước không cung cấp hàng hóa kịp tiến độ và số lượng. Nguy cơ bị thay thế với các doanh nghiệp trong nước khi không đảm bảo được sự liền mạch trong chuỗi sản xuất hàng hóa là hiện hữu khi 18% doanh nghiệp EU tại Việt Nam đã chuyển đơn hàng sang nước khác, 16% đang được cân nhắc[4]. Ở quy mô lớn hơn, việc đình trệ chuỗi cung ứng toàn cầu về hàng hóa và nguyên liệu thô tạo áp lực trực tiếp lên sản xuất và tiêu dùng nội địa và có thể làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế.[5]

- Ngoài ra, sức chịu dựng nhiều doanh nghiệp đã đến mức tới hạn, khó hồi phục. Đến đầu tháng 10/2021, tuy dịch bệnh cũng đã được kiểm soát, nhưng dịch bệnh gần hai năm qua đã bào mòn năng lực của doanh nghiệp và nhiều doanh nghiệp không thể cầm cự thêm. Sức tiêu thụ của nền kinh tế cũng có khả năng giảm do các doanh nghiệp phải dừng sản xuất hay đóng cửa tạm thời, ảnh hưởng đến tiền lương của công nhân. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng đang phải đối mặt với chi phí đầu vào (chi phí nguyên, nhiên vật liệu, vận tải, kho bãi) tăng, sự khan hiếm và nguy cơ phải đào tạo lại lao động[6], cùng với chi phí để tiếp tục phòng chống dịch bệnh sẽ tiếp tục tạo chi phí tăng thêm cho doanh nghiệp.

Đánh giá triển vọng phát triển năm 2021, dựa trên việc đánh giá làn sóng dịch bệnh mới, ADB (9/2021), WB (10/2021) và IMF (10/2021) đều giảm dự báo kinh tế Việt Nam năm 2021 so với trước đó. Cân đối bối cảnh và các yếu tố tác động đến KTVN cuối năm, trong điều kiện dịch Covid-19 cơ bản được khống chế ngay trong quý IV/2021 tại thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; Tại các khu công nghiệp, các tỉnh; các thành phố trọng điểm kinh tế bắt đầu sản xuất trở lại trong trạng thái “bình thường mới”, khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 có thể đạt khoảng 2-2,5%[7]. Tuy nhiên, nếu trong tình huống xấu hơn, bệnh dịch tiếp tục bùng phát và làm gián đoạn các khâu sản xuất tiêu thụ như trong quý III/2021, tăng trưởng kinh tế có thể ở mức thấp hơn (1-1,5%).

Bảng: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 theo quý

 

Q1

Q2

Q3

Q4 (ước)

Cả năm (ước)

Chung

4,65

6,57

-6,17

4,4

2,2

Nông –Lâm-Thủy sản

3,51

4,01

1,04

3,97

3,2

Công nghiệp – Xây dựng

6,33

10,36

-5,02

4,65

3,8

Dịch vụ

3,62

4,22

-9,28

5,00

0,8

Thuế

4,36

5,26

-7,24

2,1

1,05

Nguồn: NCIF, tháng 10/2021

 

 

[1] Tính từ tháng 6, NHNN đã giảm giá mua vào tổng cộng 375 đồng, xuống mốc 22.750 và là mức giảm tổng cộng 450 đồng nếu tính từ tháng 11 năm 2019 sau khi trải qua 6 lần điều chỉnh. Xu hướng này cũng được cho là đi ngược với những năm trước đó khi VND thường xuyên trượt giá so với USD. Mức độ cắt giảm cho đến nay cũng được đánh giá là lớn hơn và sớm hơn dự kiến, tiếp tục thể hiện chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt, chủ động của NHNN.

[2] Hội nghị trực tuyến của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 với 63 tỉnh, thành phố, sáng 25/9 dưới sự chủ trì của Thủ tướng Phạm Minh Chính

[3] Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp bàn về các giải pháp tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh dịch COVID-19, sáng 26/9, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Phạm Minh Chính sáng 26-9

[4] Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp châu Âu (EuroCham).

[5] Theo khảo sát của Tổng cục Thống kê, trong tháng 9/2021 có đến 95% doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19; 80% doanh nghiệp phải tăng chi phí đầu vào do dịch; 54,2% doanh nghiệp tăng chi phí do giá nguyên vật liệu tăng; 49,5% doanh nghiệp tăng chi phí về logistic; đặc biệt có đến 33,4% doanh nghiệp thiếu lao động và 40,8% doanh nghiệp thiếu nguyên vật liệu sản xuất.

[6] Theo số liệu từ TCTK, 73,7% doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất quý IV/2021 sẽ ổn định và khả quan hơn, song các doanh nghiệp có thể gặp trở ngại khi tuyển dụng số lượng lớn người lao động, đặc biệt trong các nhóm ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may mặc, dệt may, da giày và đồ gỗ.

[7] NCIF, tháng 10/2021

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế Vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202