Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới

Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam trong nỗ lực phục hồi nên kinh tế trước tác động tiêu cực của đại dịch Covid - 19

Cập nhật lúc: 17/08/2021 04:30:00 PM

1. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam trong nỗ lực phục hồi nền kinh tế

- Mỹ: Mỹ đã thực hiện các chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với các gói hỗ trợ tài khóa quy mô lớn, tập trung hỗ trợ y tế, người dân và doanh nghiệp. Trong đó, việc hỗ trợ doanh nghiệp có hướng đến (1) trợ cấp doanh nghiệp nhỏ giữ chân người lao động; (2) hỗ trợ tín dụng và bảo đảm phát hành trái phiếu cho doanh nghiệp, nới lỏng một số điều kiện vay đối với doanh nghiệp; (3) giữ nguyên mức phân loại nợ đối với người đi vay và người bị ảnh hưởng bởi Covid-19. Bên cạnh đó, các biện pháp đẩy mạnh tiêm chủng vaccine và chứng nhận tiêm chủng cũng được đặc biệt lưu ý. Việc chứng nhận tiêm chủng vaccine được thực hiện theo quy định của chính quyền bang và địa phương. Tuy nhiên, việc không thống nhất về chứng nhận tiêm chủng vaccine trên cả nước khiến Mỹ đối mặt với rủi ro gian lận và khó khăn cho người dân trong di chuyển nội địa và quốc tế.

- Trung Quốc: Trung Quốc cũng thực hiện các chính sách tiền tệ nới lỏng và các gói hỗ trợ kinh tế. Một số điểm đáng lưu ý trong chính sách của Trung Quốc là: (1) Thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh đầu tư công; (2) thực hiện một số chương trình hỗ trợ ngoài ngân sách như bảo lãnh bổ sung cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cắt giảm một số loại phí như phí cầu đường, cảng biển, điện,…; (3) ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn, bao gồm: cho vay không tài sản đảm bảo, kéo dài thời gian thanh toán các khoản vay đủ điều kiện vay; (4) khuyến khích phát triển trái phiếu doanh nghiệp thông qua nới lỏng quy định đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm đối với các khoản đầu tư trái phiếu,…

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đẩy nhanh quá trình tiêm chủng vaccine và bắt đầu triển khai “hộ chiếu” vaccine từ tháng 3/2021 (gồm hộ chiếu điện tử và bản giấy) nhằm mở rộng khả năng di chuyển trong nước và quốc tế.

- EU: Chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp và một số ngành, lĩnh vực tập trung giải quyết một số vấn đề: (1) Tài trợ cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và gia đình có thu nhập thấp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; (2) miễn, giảm thuế và một số khoản phải đóng cho doanh nghiệp; (3) hỗ trợ thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực ưu tiên, tập trung vào các ngành kinh tế số, tăng trưởng xanh, doanh nghiệp khởi nghiệp và xuất khẩu.

EU cũng đã triển khai xây dựng “chứng chỉ xanh kỹ thuật số”, xác nhận người sở hữu chứng chỉ đã được tiêm vaccine hoặc có kết quả xét nghiệm âm tính, tạo điều kiện thuận lợi để người dân đã tiêm vaccine được di chuyển giữa các nước và ra bên ngoài.

- Nhật Bản: Chính phủ Nhật Bản dự kiến sẽ sử dụng một phần gói cứu trợ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp chuyển đổi định hướng kinh doanh nhằm đối phó với dịch Covid-19. Hỗ trợ đặc biệt cho các chính quyền địa phương nhằm giúp họ có thể trợ cấp cho các cửa hàng và quán bar phải rút ngắn thời gian hoạt động để chống chịu Covid-19. Về dài hạn, Chính phủ Nhật chi khoảng 2.000 tỷ yên cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới như chế tạo pin thế hệ mới và tái chế carbon nhằm giúp nước ngày có thể thực hiện mục tiêu trung hòa khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2050 và 1000 tỷ Yên để thúc đẩy quá trình số hóa.

- Singapore: Các gói hỗ trợ của Chính phủ Singapore giúp cho các lĩnh vực du lịch, hàng không, thực phẩm và phát tiền cho các hộ gia đình; bóc tách thuế tài sản đối với các ngành khó khăn, hỗ trợ tiền lương cho doanh nghiệp, đóng băng các khoản phí của chính phủ; gia hạn việc miễn và giảm thuế cho người lao động nước ngoài trong hai tháng, kéo dài thời gian trợ cấp lương đến tháng 8 cho một số doanh nghiệp, nâng mức hỗ trợ tiền lương cho các lĩnh vực vị ảnh hưởng nặng nề lên 50% hoặc 75%.

Đối với chiến lược phục hồi kinh tế hậu Covid-19, Singapore đề ra chiến lược 3 mũi nhọn, cụ thể: (1) tập trung tái thiết đất nước trở thành điểm nút kết nối toàn cầu với châu Á về công nghệ, đổi mới và doanh nghiệp, giúp chuyển nền kinh tế dịch vụ sang nền tảng số hóa; (2) tăng gấp đôi các nỗ lực để thúc đẩy tăng trưởng toàn diện thông qua thu hút nhân tài, bổ sung lực lượng lao động chất lượng cao; (3) tăng cường đầu tư để gia tăng tính bền vững và khả năng tự cường của nền kinh tế, coi đó là một lợi thế cạnh tranh nhất định. Điều này, đòi hỏi Singapore sẽ phải tự sản xuất các hàng hóa thiết yếu từ nội địa, đẩy nhanh việc triển khai năng lượng tái tạo.

Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam:

Thứ nhất, hầu hết các quốc gia đều coi việc cải thiện năng lực y tế và tiêm chủng vaccine là giải pháp trọng tâm, có tính quyết định, nền tảng cho việc khôi phục các hoạt động kinh tế. Đồng thời, thúc đẩy áp dụng “hộ chiếu vaccine” để tháo gỡ rào cản di chuyển.

Thứ hai, các biện pháp hỗ trợ được hiện có trọng tâm, tập trung vào các ngành, lĩnh vực chịu tác động mạnh của dịch Covid-19 và các ngành, lĩnh vực có khả năng phụ hồi nhanh, các ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ số.

Thứ ba, trong khu vực doanh nghiệp, hướng đến ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ tư, thực hiện đồng thời các biện pháp ngắn hạn và các biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Trong đó, xu hướng chung trong dài hạn là hỗ trợ cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là tăng trưởng xanh và kinh tế số (như tại EU, Nhật Bản, Singapore).

2. Khuyến nghị một số giải pháp bảo vệ và phục hồi nền kinh tế

Đánh giá tình hình thực tế, trên cơ sở các yếu tố nguồn lực, khả năng thực hiện, một số biện pháp bảo vệ, khôi phục và thúc đẩy tăng trưởng được đề xuất, gồm:

2.1. Các biện pháp ngắn hạn

- Thực hiện chiến lược vaccine phù hợp, tập trung mọi nguồn lực đẩy nhanh tiến trình mua và tiêm vaccine ngừa Covid-19. Đây được xem là giải pháp quan trọng hàng đầu, có tính quyết định, tạo nền tảng để phục hoạt sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngoài các lực lượng tuyến đầu chống dịch, cần đặc biệt ưu tiên tiêm vaccine ngừa Covid-19 cho lao động trong các ngành công nghiệp quan trọng (dệt may, da giày, điện, điện tử, chế biến thực phẩm) tại các khu công nghiệp ở các địa phương đóng góp tỷ trọng lớn trong tăng trưởng kinh tế như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương. Đây cần được coi là giải pháp quan trọng hàng đầu để phục hồi sản xuất, duy trì động lực tăng trưởng lớn nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo.

- Xem xét, nghiên cứu khả năng áp dụng “hộ chiếu vaccine” để từng bước tháo gỡ rào cản di chuyển, kích thích du lịch nội địa. Trong trường hợp tiêm chủng vaccine được thúc đẩy nhanh hơn, có thể nghiên cứu áp dụng “hộ chiếu vaccine”, cho phép người dân di chuyển, tạo điều kiện khôi phục lại các hoạt động du lịch nội địa và từng bước tính tới khả năng mở cửa cho khách du lịch quốc tế.

- Hỗ trợ khu vực doanh nghiệp: Nghiên cứu giảm chi phí thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, thanh kiểm tra chuyên ngành đối với các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm trong nước (như y tế), và doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp; Nghiên cứu, rà soát giảm một số loại phí, lệ phí; chi phí đầu vào sản xuất: chi phí lãi vay, giảm chi phí logistics (giãn, miễn phí BOT tại các vùng động lực trong khoảng thời gian nhất định), giảm giá điện (theo nhóm ngành hoặc theo địa bàn trọng điểm),v.v; Có thể sử dụng gói hỗ trợ để bảo lãnh khoản vay hoặc giảm chi phí lãi vay cho các khoản vay trung và dài hạn của doanh nghiệp; Cụ thể hơn:

+ Nhà nước nên đóng vai trò lớn hơn với tư cách là “người bảo lãnh các rủi ro” đối với các khoản vay của doanh nghiệp. Thậm chí có thể sử dụng các gói cứu trợ tài khóa để bảo lãnh cho các doanh nghiệp gặp khó khăn do dịch Covid-19 giống như nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng; Giãn, miễn giảm thế cho các doanh nghiệp một cách thực chất hơn: Nghiên cứu để ưu tiên các biện pháp giãn thuế hơn là miễn thuế thu nhập do tác động của miễn thuế thu nhập không cao trong giai đoạn hiện nay khi doanh nghiệp chưa phát sinh thu nhập. Mặt khác, nếu áp dụng miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, đối tác thụ hưởng phần nhiều sẽ là những đối tượng ít bị ảnh hưởng bởi Covid-19; Tiếp tục triển khai các biện pháp giảm chi phí cho doanh nghiệp thông qua giảm phí sử dụng hạ tầng, hoặc các dịch vụ khác như chi phí tiền điện hoặc chi phí năng lượng.

+ Hỗ trợ doanh nghiệp trong khơi thông nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu. Tháo gỡ những vướng mắc về logistics, giảm thiểu tình trạng ách tắc ở biên giới do công tác phòng dịch. Khuyến khích phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho những ngành xuất khẩu chủ lực.

+ Tái cơ cấu doanh nghiệp khu vực tư nhân nhằm hạn chế tác động tiêu cực từ dịch bệnh Covid-19, tập trung vào các ngành, lĩnh vực chịu tác động nặng nề của dịch bệnh. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các kênh thông tin về xuất, nhập khẩu nhằm tìm kiếm thị trường mới nhập khẩu nguyên, vật liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử số, kinh tế số.

- Thúc đẩy giải ngân đầu tư công. Tập trung tháo gỡ những vướng mắc thể chế đầu tư công, xây dựng, bồi thường, giải phóng mặt bằng…; tăng cường kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là vốn ODA; rà soát, giảm số lượng dự án khởi công mới, cắt bỏ những dự án chưa cần thiết và kém hiệu quả; điều chỉnh sớm kế hoạch vốn giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ giải ngân tốt, còn thiếu vốn;....

- Theo dõi và kiểm soát lạm phát: Rủi ro lạm phát hiện nay chủ yếu từ nguyên nhân chi phí đẩy nên việc xử lý sẽ khó khăn hơn. Việc sử dụng chính sách tiền tệ bị hạn chế vì có thể làm chậm đà phục hồi tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, cần quan tâm hơn đến các giải pháp giảm chi phí đầu vào cho sản xuất để giảm giá thành và mặt bằng giá.

2.2. Các biện pháp dài hạn

- Tìm kiếm, kích hoạt các động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, chuyển đổi cơ cấu và mô hình tăng trưởng.

- Hình thành chuỗi và tăng cường vai trò các vùng động lực/các cực tăng trưởng. Tăng cường liên kết vùng/ngành, phát triển kinh tế dựa trên phát huy tối đa tiềm năng các vùng. Trong đó:

+ Vùng ĐBSH với ưu thế về nguồn lực con người nên tập trung phát triển những ngành công nghệ cao với mục đích nghiên cứu, ứng dụng, tận dụng hiệu quả khoa học công nghệ và tạo lan tỏa đến các vùng khác trên cả nước. Vùng ĐNB tập trung phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, trong đó hướng ưu tiên hơn vào các ngành chế biến nông sản, để phục vụ các vùng nuôi trồng rộng lớn xung quanh.

+ Hình thành chuỗi giá trị ngành kinh tế theo vùng và coi đó là động lực để phát huy lợi thế của từng vùng. Xác định các ngành kinh tế được ưu tiên trong thời gian tới. Xác định vị trí các cụm ngành được ưu tiên. Tiếp theo là xác định các ngành cung cấp đầu vào và địa phương cung ứng từ đó hình thành mối liên kết giữa các ngành. Xác định cấu trúc không gian của chuỗi giá trị theo mức độ tập trung của lao động theo các ngành trong mối liên kết trên theo vùng địa lý.

+ Bài học từ dịch Covid-19 cho thấy nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam như dệt may, da giày, điện tử và ô tô đứng trước nguy cơ thiếu nguyên liệu, dẫn tới phải tạm ngừng sản xuất khi dịch bùng phát tại Trung Quốc. Do đó, tái cơ cấu chuỗi cung ứng, tăng cường năng lực cung ứng trong nước, giảm sự lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc, gồm các biện pháp ngắn hạn là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, dài hạn cần có chiến lược phát triển ngành công nghiệp trong nước, tránh bị lệ thuộc vào nước ngoài. Bên cạnh đó, cần tận dụng cơ hội từ dòng vốn đầu tư dịch chuyển khỏi Trung Quốc. Vị thế của Việt Nam đang tăng lên đối với các nhà đầu tư (thị trường trong nước lớn, độ mở xuất khẩu lớn, tham gia nhiều và sâu vào FTA). Do vậy, nếu có những chính sách tốt tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường kinh doanh và đầu tư, với vị trí địa lý thuận lợi, giá nhân công rẻ sẵn có, Việt Nam đang là một nước có tiềm năng lớn có thể thay thế vai trò sản xuất của Trung Quốc cho các tập đoàn đa quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Bổ sung/điều chỉnh chính sách khuyến khích đầu tư như ưu đãi đối với các doanh nghiệp FDI thực hiện chuyển đổi số, có công nghệ cao, liên kết với các doanh nghiệp trong nước, có tác động chuyển đổi cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong đó, cần chủ động đón đầu sự chuyển dịch các dòng vốn đầu tư chất lượng cao đến từ các quốc gia như Mỹ, châu Âu, Nhật, Hàn Quốc; chú trọng thu hút các tập đoàn có tác động lan tỏa tới các khu vực kinh tế trong nước cùng phát triển xuất khẩu và bảo vệ môi trường.

- Thúc đẩy kinh tế số/chuyển đổi số: Chú trọng chuyển đổi số trong doanh nghiệp, đặc biệt ứng dụng công nghệ số trong hoạt động quản lý; đầu tư công nghệ số để kiểm soát dịch bệnh[1]. Xem xét tăng cường chi tiêu với mục tiêu xây dựng và hoàn thiện chính phủ số, số hóa các dịch vụ công… Cùng với đó, mạnh dạn thử nghiệm các dịch vụ mới, sản phẩm mới có tính cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới. Đào tạo lực lượng lao động cho phát triển công nghệ số. Đẩy nhanh thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo, khung chính sách ưu đãi để doanh nghiệp phát triển tại Việt Nam nhất là thuế, tài sản, sở hữu trí tuệ. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; phát triển mô hình kinh doanh mới; nâng cao năng lực đổi mới, hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp.

- Phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ tạo được bước “đột phá lớn trong công nghệ cốt lõi”, bao gồm: trí tuệ nhân tạo, sản xuất robot, công nghệ sinh học, chất bán dẫn cao cấp, hệ điều hành, bộ xử lý máy tính và điện toán đám mây. Xây dựng, phát triển một hệ sinh thái nhằm chuyển đổi các ngành công nghiệp hiện hữu, bao gồm cả các ngành công nghiệp được xem là mũi nhọn theo hướng thông minh, đổi mới sáng tạo và hiệu quả.

 


[1] Kinh nghiệm của Trung Quốc, Singapore sử dụng WeChat và TraceTogether để kiểm soát lịch trình công dân để mở cửa trở lại các hoạt động kinh tế bình thường.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202