Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới

Bối cảnh quốc tế ảnh hưởng tới phát triển ngành, doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2021

Cập nhật lúc: 21/06/2021 04:05:00 PM

Hoạt động kinh tế toàn cầu tiếp tục tăng tốc vững chắc trong Quý 2/2021. Sản lượng và đơn đặt hàng mới tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 4/2006. Tăng trưởng hoạt động kinh tế toàn cầu được dẫn dắt bởi các nền kinh tế Mỹ và Anh. Khu vực đồng euro cũng là một điểm sáng, với tốc độ mở rộng hoạt động sản xuất trong tháng 5 cao nhất trong hơn ba năm. Chỉ số sản lượng tổng hợp toàn cầu JPMorgan đã tăng lên 58,4 vào tháng 5, mức cao nhất trong 181 tháng. Hoạt động kinh tế tại khu vực châu Á kém sôi động hơn so với Mỹ và châu Âu. Tăng trưởng ở Trung Quốc giảm xuống, trong khi tại Nhật Bản và Ấn Độ giảm trở lại.

Dữ liệu PMI ™ toàn cầu theo ngành mới nhất từ ​​IHS Markit cho thấy tất cả 21 ngành được theo dõi trong tháng 5/2021 đều có mức tăng trưởng về sản lượng và đơn đặt hàng mới tháng thứ hai liên tiếp. Tốc độ tăng trưởng hoạt động kinh doanh mạnh nhất trong tháng 5 được ghi nhận trong lĩnh vực Bất động sản, lần đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng kể từ tháng 1 năm 2020. Chỉ số Hoạt động Kinh doanh Bất động sản toàn cầu (63,3) đạt mức cao kỷ lục kể từ khi chuỗi bắt đầu vào tháng 10/2009. Lĩnh vực phát triển nhanh nhất tiếp theo là Du lịch & Giải trí, tăng 14 bậc kể từ tháng 4/2021 và cũng lập một loạt kỷ lục về tốc độ tăng trưởng. Các ngành Bảo hiểm, Dịch vụ Công nghiệp và Dịch vụ y tế cũng tăng trưởng mạnh. Ngành dịch vụ toàn cầu được cải thiện tháng thứ hai liên tiếp trong tháng 5/2021. Hoạt động kinh doanh của khu vực dịch vụ tăng với tốc độ nhanh nhất trong hơn 15 năm (kể từ tháng 4/2006), trong khi tăng trưởng của sản xuất chế tạo giảm nhẹ so với tháng 4. Tốc độ tăng cao nhất là trong lĩnh vực dịch vụ kinh doanh, tiếp theo là dịch vụ tài chính.

Thương mại quốc tế được cải thiện. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu mới trong tháng 5 đã tăng tháng thứ tư liên tiếp và ở mức cao nhất trong kỷ lục. Theo dữ liệu mới từ UNCTAD[1], giá trị thương mại hàng hóa đã vượt qua mức trước đại dịch trong quý I/2021, tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu từ các nền kinh tế Đông Á đã thúc đẩy sự phục hồi này - đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, xuất khẩu từ các khu vực và quốc gia đang phát triển khác (gồm cả Nga) phục hồi chậm hơn. Sự phục hồi này dự kéo dài sang quý thứ 2/2021, với tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ dự kiến đạt 6,6 nghìn tỷ USD.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu tiếp tục phục hồi. Các tín hiệu về triển vọng đầu tư đạt mức cao kỷ lục trong tháng 4/2021 nhờ kết quả kiểm soát đại dịch Covid-19 và xu hướng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao tiếp tục được củng cố. Chỉ số fDi, theo dõi tâm lý của các nhà đầu tư nước ngoài, đứng ở mức 732 điểm trong tháng 4/2021 - giảm so với tháng 3/2021 nhưng tăng tới 66,7% tới so với tháng 4/2020 khi đại dịch ảnh hưởng lớn tới các quốc gia trên toàn thế giới. Đây là mức tăng hàng năm lớn nhất trong Chỉ số fDi kể từ khi được bắt đầu được công bố vào tháng 10/2015. Đầu tư mới và kế hoạch mở rộng đầu tư tập trung nhiều trong các ngành công nghệ.

FDI vào Trung Quốc tăng mạnh. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm 2021 tăng tới 35,4% so với cùng kỳ năm ngoái lên 481 tỷ nhân dân tệ (75,3 tỷ USD). Đầu tư nước ngoài vào ngành dịch vụ tăng 41,6% so với cùng kỳ năm trước lên 381,9 tỷ nhân dân tệ; và ngành công nghiệp công nghệ cao tăng 34,6%, trong đó dịch vụ công nghệ cao tăng 37,6% và sản xuất công nghệ cao tăng 25%. Trong số các nguồn đầu tư chính, FDI vào Trung Quốc tăng từ ASEAN (56%) và EU (16,8%), trong khi FDI từ các nước dọc theo Vành đai và Con đường tăng 54,1%.

FDI vào Ấn Độ tăng, bất chấp đại dịch Covid-19. Trong tài khóa 2020-2021 (kết thúc ngày 31/3/2021), Ấn Độ đã thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cao nhất từ trước tới nay, đạt 81,72 tỷ USD, tăng 10% so với mức 74,39 tỷ USD của tài khóa trước đó, dù Ấn Độ là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch Covid-19. Các biện pháp được chính phủ triển khai trong lĩnh vực cải cách chính sách FDI, tạo thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh đã góp phần làm tăng dòng vốn FDI vào nước này.  Trong số các nhà đầu tư chủ chốt vào Ấn Độ, Singapore đứng đầu với 29% tổng vốn FDI, tiếp theo là Mỹ 23% và Mauritius 9%. Lĩnh vực phần mềm và phần cứng máy tính thu hút nhiều vốn đầu nhất chiếm khoảng 44% tổng dòng vốn FDI cổ phần. Tiếp theo là hoạt động xây dựng (cơ sở hạ tầng) 13% và lĩnh vực dịch vụ 8%.

Áp lực lạm phát tăng khi nhu cầu vượt quá nguồn cung. Chi phí đầu vào tăng ở mức cao nhất kể từ tháng 8/2008 và chi phí đầu ra với tốc. Bảy lĩnh vực ghi nhận mức lạm phát giá đầu vào kỷ lục, trong khi 12 ngành ghi nhận mức lạm phát giá đầu ra kỷ lục trong tháng 5. Giá dầu thế giới tăng mạnh. Giá dầu WTI giao sau tại thị trường New York ngày 15/6 đứng ở 71,2 USD/thùng, tăng 0,32 USD/thùng so với đóng cửa phiên trước. Giá dầu Brent giao sau tại thị trường London cùng thời điểm tăng 0,33 USD/thùng, đạt 73,19 USD/thùng.

Triển vọng kinh tế toàn cầu vẫn tích cực khi các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ đều dự báo rằng sản lượng sẽ tăng trong 12 tháng tới. Tuy nhiên có sự hồi phục không đồng đều. Một số nền kinh tế dự báo sẽ phục hồi mạnh mẽ và nhanh hơn những nền kinh tế khác. Đặc biệt, các nền kinh tế Trung Quốc và Mỹ dự kiến ​​sẽ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu trong năm 2021. Điều này cũng sẽ có tác động tích cực đến các quốc gia có thương mại tương đối với các nước này (các nước Đông Á, Canada và Mexico). Mặt khác, COVID-19 dự kiến ​​sẽ tiếp tục phá vỡ nền kinh tế và thương mại của nhiều nước đang phát triển, ít nhất là trong năm 2021.

Các gói kích thích tài khóa, đặc biệt ở các nước phát triển, được kỳ vọng sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho sự phục hồi thương mại toàn cầu trong năm 2021. Giá trị thương mại toàn cầu cũng sẽ tăng do xu hướng tích cực của giá cả hàng hóa. Tuy nhiên, bất ổn kinh tế vĩ mô dự báo tăng do mức nợ cao hơn. Việc các chính phủ tiếp tục đi vay để kích thích kinh tế trong bối cảnh cuộc khủng hoảng COVID-19 có thể dẫn đến bất ổn tài chính. Ngay cả khi không xảy ra cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu, việc gia tăng các khoản nợ và nghĩa vụ thanh toán nợ có thể gây ra bất ổn. Bất kỳ sự gia tăng nào của lãi suất sẽ gây áp lực lên cả vay nợ quốc gia và tư nhân với những tác động tiêu cực lên đầu tư và dòng chảy thương mại quốc tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có không gian chính sách tài khóa hạn chế hơn.

Đại dịch COVID-19 đã tạo ra một sự không chắc chắn đối với hoạt động của các chuỗi giá trị toàn cầu, tạo ra động lực để chuyển sản xuất đến gần hơn với người tiêu dùng. Việc thực thi các hiệp định thương mại khu vực (ví dụ như RCEP và AfCFTA) và căng thẳng thương mại đang diễn ra giữa các nền kinh tế lớn cũng có thể góp phần thay đổi mô hình sản xuất của chuỗi giá trị toàn cầu. Hơn nữa, tình trạng khan hiếm container kéo dài và giá cước ngày càng tăng có thể tạo thêm động lực cho xu hướng dịch chuyển sản xuất về gần.

Tài liệu tham khảo

  1. UNCTAD (2021), “Global Trade Update”, thang 5/2021.
  2. https://www.markiteconomics.com/Public/Release/PressReleases

 


[1] UNCTAD (5/2021), Global Trade Update.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế Ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202