Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới

Kinh tế thế giới 5 tháng đầu năm và một số rủi ro

Cập nhật lúc: 16/06/2021 10:18:00 AM

1. Kinh tế thế giới 5 tháng đầu năm 2021

Kinh tế thế giới tiếp tục cho thấy những dấu hiệu tăng trưởng khả quan. Chỉ số PMI tổng hợp toàn cầu liên tục tăng trong 5 tháng đầu năm và đạt mức cao nhất trong 11 năm trở lại đây với 58,4 điểm với sự dẫn đầu của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Anh. IMF cũng liên tục nâng các mức dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới, phản ánh kỳ vọng về sự tăng cường các hoạt động về vaccine vào cuối năm và các gói cứu trợ lớn được thực hiện ở một số nền kinh tế lớn như Mỹ và châu Âu.

Kinh tế Mỹ phục hồi đáng kể sau khi dự luật kích thích kinh tế trị giá 1,9 nghìn tỷ USD được thực thi. Các phản ứng trước gói cứu trợ này là tương đối tích cực[1]. Tăng trưởng kinh tế Mỹ khởi sắc với kỷ lục tăng trưởng trong hoạt động sản xuất. Trong tháng 4, chỉ số IIP của Mỹ tăng mạnh lên 16,5%[2], đây là mức tăng kỷ lục từ trước tới nay. Trong khi đó, chỉ số PMI của Mỹ trong tháng 5 đạt 61,5 điểm – là mức cao kỷ lục trong vòng 25 năm trở lại đây.

Kinh tế khu vực Châu Âu cho thấy dấu hiệu phục hồi tích cực. Cùng với chuyển biến tích cực của chương trình tiêm vacxin, tốc độ tiêm chủng được đẩy nhanh hơn, các nền kinh tế trong khu vực EU bắt đầu mở cửa trở lại. Bên cạnh đó, quỹ kích thích chung của Liên minh châu Âu đã được khởi động để củng cố cho chính sách tiền tệ siêu nới lỏng. Ngày 12/5, Liên minh châu Âu đã điều chỉnh mạnh dự báo tăng trưởng của khu vực trong năm 2021 và 2022 (tương ứng 4,2% và 4,4%). Tuy nhiên, cùng với sự phục hồi của nền kinh tế, mức nợ công của khu vực này cũng được dự báo ở mức kỷ lục với nợ đọng ở mức trên 100% GDP hằng năm.

Kinh tế Trung Quốc tiếp tục cho thấy những dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ[3] nhờ nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu tăng mạnh. Vai trò của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu dường như không bị giảm bớt dù cho hoạt động vận chuyển trên toàn cầu chậm trễ do tác động của đại dịch. Xuất khẩu của Trung Quốc tăng 27,9% trong tháng 5/2021 so với cùng kỳ năm trước. Sự phục hồi của thị trường trong nước khiến nhập khẩu tăng tới 51,1% - mức cao nhất kể từ đầu năm 2011. Sự phục hồi của thị trường lớn thứ 2 này đã tác động tích cực tới triển vọng xuất khẩu của Việt Nam[4]. Đồng thời góp phần đảm bảo tốt hơn nguồn cung nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất của một số ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam, như dệt may, da giày, điện thoại và linh kiện.

Lĩnh vực sản xuất ASEAN đã tăng trưởng trở lại trong tháng 4. Các điều kiện kinh doanh cải thiện với tốc độ nhanh với sản lượng tăng nhanh hơn. Chỉ số PMI toàn phần đạt trên ngưỡng trung tính 50 điểm tháng thứ hai liên tiếp, sau khi tăng từ 50,8 điểm trong tháng 3 lên 51,9 điểm trong tháng 4, cho thấy sức khỏe lĩnh vực sản xuất ASEAN có mức cải thiện vừa phải. Chỉ số PMI toàn phần đạt 51,8 trong tháng 5, giảm nhẹ so với 51,9 của tháng 4, cho thấy các điều kiện sản xuất ASEAN cải thiện tháng thứ ba liên tiếp và lần giảm này là mạnh thứ nhì kể từ tháng 7/2014.

FDI phục hồi trở lại nhờ kỳ vọng tăng trưởng toàn cầu tốt hơn. Sau khi IMF công bố kỳ vọng sáng sủa về tăng trưởng kinh tế toàn cầu, FDI toàn cầu đã phục hồi trở lại từ tháng 3 năm 2021, tổng giá trị đầu tư FDI đạt hơn 21,5 tỷ USD (tăng 88% so với cùng kỳ năm 2020); chỉ số FDI toàn cầu tháng 3 đạt mức 855 điểm (tăng 43,6% so với cùng kỳ năm 2020) và là mức cao nhất trong hơn 1 năm trở lại đây[5]. Các dự án FDI tập trung chủ yếu những ngành liên quan tới phát triển công nghệ mới (như ô tô, điện tử tiêu dùng và khoa học đời sống), ngành năng lượng tái tạo thay thế cho than, dầu, khí đốt và ngành dược phẩm. Khu vực Bắc Mỹ với Mỹ và Canada có số dự án FDI gia tăng lớn nhất, tiếp theo là Tây Ban Nha, Trung Quốc, Colombia và Ả Rập Xê-út.

2. Cảnh báo một số rủi ro:

Lạm phát toàn cầu tăng. Tính từ đầu năm đến hết tháng 4/2021, giá năng lượng, các mặt hàng hoá phi năng lượng, giá lương thực, kim loại và khoáng chất đều tăng[6]. Ngoài ra nguyên nhân khiến lạm phát toàn cầu tăng còn do áp lực chi phí logistic do sự tắc nghẽn tại kênh đào Suez trong tháng 3 vừa qua.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 của Hàn Quốc đã tăng lên mức cao nhất trong 4 năm qua. Nguyên nhân chủ yếu được cho là do giá dầu, nông sản tăng và mức so sánh thấp vào năm ngoái khi đại dịch làm suy giảm cầu tiêu dùng. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 2,3% so với cùng kì năm ngoái. Dự báo trong Quý II, chỉ số CPI được dự báo sẽ dao động trên 2% do tác động cơ sở và yếu tố nguồn cung. Tuy chỉ số PMI của Hàn Quốc giảm nhẹ từ 55,3 xuống 54,6 trong tháng 4 nhưng vẫn là sự cải thiện khá bền vững trong lĩnh vực sản xuất trong 4 tháng đầu năm khi số lượng đơn hàng đã tăng thêm, đặc biệt nhu cầu nước ngoài đối với hàng hoá sản xuất của Hàn Quốc vẫn tiếp tục được mở rộng, cụ thể tại thị trường Châu Á và Bắc Mỹ.

Với sự nới lỏng của gói cứu trợ siêu nới lỏng của Mỹ đã đẩy Mỹ vào bối cảnh lạm phát tăng cao. Trong tháng 5, lạm phát của Mỹ đã vượt 5%, con số kỷ lục trong vòng 10 năm trở lại đây. Mỹ có khả năng tăng lãi suất tạo ra những thách thức đối với ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam.

Nợ công tăng cao sau đại dịch. Đại dịch Covid-19 đã khiến nền kinh tế thế giới rơi vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ sau cuộc đại suy thoái những năm 1930. Trước cú sốc kinh tế đó, chính phủ các nước EU đã buộc phải bơm các gói cứu trợ khổng lồ để chống dịch, cứu các doanh nghiệp khỏi nguy cơ phá sản, bảo đảm tiền lương cho người lao động và hỗ trợ phục hồi kinh tế. Tuy nhiên, những “liều thuốc” này lại kéo theo tác dụng phụ khi gia tăng gánh nặng nợ nần của các nước.

Nhật Bản đang phải đối mặt với mức nợ công cao kỷ lục năm thứ 5 liên tiếp. Ngày 10/5, Bộ Tài chính Nhật Bản công bố nợ công của nước này trong tài khóa 2020 đã tăng lên 1.216.460 tỷ yen (hơn 11.032 tỷ USD). Nợ công Nhật Bản tính đến tháng 3/2021 đã tăng lên 112.550 tỷ yen so với 32.560 tỷ yen theo dự toán. Nợ công tăng chủ yếu do Chính phủ Nhật Bản phải tăng các khoản chi ngân sách nhằm ứng phó với dịch COVID-19. Mặt khác, nợ công tăng bù đắp lại sự sụt giảm nguồn thu từ thuế khi dịch COVID-19 làm gián đoạn các chuỗi cung ứng của nhiều doanh nghiệp Nhật Bản khiến hoạt động sản xuất - kinh doanh trong nước bị đình trệ. Nhật Bản hiện đang là nước có mức nợ công/GDP cao nhất các nước phát triển và áp lực trả nợ trong tương lai là rất lớn.

Nợ công tại các nước EU đang ở mức cao kỷ lục. Tại các nước Bỉ, Tây Ban Nha, Pháp, Síp, Bồ Đào Nha, I-ta-li-a mức nợ công hiện đã vượt ngưỡng 100% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Hy Lạp hiện là quốc gia thành viên EU có gánh nặng nợ nghiêm trọng nhất, lên đến khoảng 200% GDP. Tại I-ta-li-a, Cơ quan thống kê quốc gia I-ta-li-a (Istat) cho biết, năm 2020, tổng nợ của nước này đã tăng lên mức 155,6% GDP. Trong khi đó, Bộ trưởng Tài chính Pháp B.Lơ Me mới đây dự báo, nợ công của Pháp trong năm 2021 có thể chạm mốc 118% GDP./.


[1] Kỳ vọng tăng trưởng của Mỹ là tương đối khả quan trong năm 2021. IMF đã tăng dự báo tăng trưởng của Mỹ từ mức 5,1% (dự báo tháng 1/2021) lên 6,4% (dự báo tháng 4/2021).

[2] IIP tháng 3 của Mỹ tăng 1%. PMI tháng 4 của Mỹ đạt 60,5 điểm.

[3] Quý I/2021 tăng trưởng đạt 18,3% so với cùng kỳ năm ngoái - mức tăng trưởng quý cao nhất kể từ năm 1992

[4] Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt mức cao nhất (34,4% trong quý 1/2021) trong các thị trường xuất khẩu chính.

[5] FDI Market - https://www.fdiintelligence.com/article/79801

[6] Giá dầu đã tăng khoảng 40% và trở lại mức trước đại dịch. Chỉ số giá thực phẩm toàn cầu của tăng 10 tháng liên tiếp, lập đỉnh trong tháng 3/2021. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, từ đầu năm đến hết tháng 4/2021, giá năng lượng (dầu thô và than đá) toàn cầu tăng 30% so với đầu năm, giá hàng hóa khác (phi năng lượng) tăng 16%, trong đó giá lương thực tăng 16%, giá phân bón tăng 24% và giá kim loại, khoáng chất tăng 25%... Chỉ số S&P GSCI, một thước đo giá của 24 nguyên vật liệu thô, đã tăng 24% từ đầu năm.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202