Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Kinh tế ngành quý 01 năm 2021

Cập nhật lúc: 09/04/2021 10:11:00 AM

 1. Khu vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong tháng 3/2021 diễn biến khá tốt do thời tiết thuận lợi. Tính đến trung tuần tháng 2/2021, cả nước gieo cấy được 2.606,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 95,9% cùng kỳ năm 2020. Dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát thúc đẩy việc phục hồi chăn nuôi lợn. Sản xuất thuỷ sản phát triển ổn định, giá tôm ở mức cao do nhu cầu cho ngành chế biến tăng.

Thị trường quốc tế: Giá cao su tại các sản giao dịch chủ chốt tăng do nhu cầu tăng và thị trường kỳ vọng sự phục hồi kinh tế thế giới. Trong khi đó giá cà phê đầu tháng 3 giảm do nguồn cung dồi dào.

Thị trường trong nước: Giá mủ cao su nguyên liệu tại khu vực Đông Nam Bộ đầu tháng 3/2021 ổn định trong khi giá cà phê trong nước giảm theo giá cà phê toàn cầu. Tiêu thụ nông sản tại các địa phương có dịch như Hải Dương khởi sắc do dịch bệnh được kiểm soát. Tuy nhiên, giá xoài tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long giảm mạnh do nguồn cung dồi dào và xuất khẩu gặp khó khăn.

Xuất nhập khẩu: Trong hai tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm sản đạt 3,6 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng thủy sản đạt 1 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các mặt hàng chủ yếu đều có sự tăng trưởng tốt như: thuỷ sản, rau quả, hạt điều, chè, hạt tiêu, sắn và các sản phẩm từ sắn. Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản chính hầu hết có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước: thuỷ sản (10,6%), rau quả (30,7%), hạt điều (53,5%).

2. Khu vực Công nghiệp

2.1. Ngành khai khoáng

 Hai tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ngành khai khoáng giảm 11,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong nhóm ngành khai khoáng, khai thác than cứng và than non giảm 8,6%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 15,6%. Riêng khai thác quặng và kim loại và khai khoáng khác tăng 14,9% và 8,6%.

2.2. Ngành dệt may, da giày

Trong tháng 3 và quí I năm 2021, ngành dệt may, da giày tăng trưởng tốt. Xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày dép cũng cho thấy sự phục hồi trở lại với kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm của hàng dệt và may mặc đạt 4,76 tỷ USD, tương đương cùng kỳ năm 2020 và kim ngạch xuất khẩu giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 15,4%. Sự phục hồi xuất khẩu đến từ các thị trường tiêu thụ truyền thống như Mỹ, châu Âu, Nhật. Về nhập khẩu, nhập khẩu vải các loại 2 tháng đầu năm đạt 1,86 tỷ USD, tăng 19,7%, cho thấy sản xuất trang phục trong nước đang diễn biến tốt. Nhập khẩu xơ, sợi dệt các loại đạt 377,7 triệu USD, tăng 20,4%; nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da, giày đạt 1,89 tỷ USD, tăng 19%; bông các loại đạt 365,7 triệu USD, giảm 3,3%.

Hai tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành sản xuất trang phục tăng 2,1%, cao hơn tốc độ 0,2% của cùng kỳ năm trước cho thấy ngành may mặc đã phần nào phục hồi sau đại dịch. Hầu hết các doanh nghiệp ngành dệt may, da giày đã có đơn hàng đến hết tháng 6/2021 do Việt Nam kiểm soát được tình hình dịch bệnh và có giá cả tương đối phù hợp. Việt Nam đang có nhiều lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Myanmar... nên được các nhà mua hàng ưu tiên lựa chọn.

2.3. Ngành điện tử

Xuất khẩu điện tử, điện thoại và linh kiện các loại tiếp tục dẫn đầu trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Trong hai tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt 9,78 tỷ USD, tăng 29,1% so với cùng kỳ năm 2020 nhờ sản phẩm Galaxy S21 mới ra mắt của Samsung. Xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 7,27 tỷ USD, tăng 34,2%. Trong thời gian tới ngành điện tử, điện thoại và linh kiện được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt nhờ có sự dịch chuyển chuỗi giá trị ra khỏi Trung Quốc.

2.4. Ngành ô tô, xe máy

Trong tháng 1/2021, nhập khẩu ô tô nguyên chiếc và linh kiện, phụ tùng ô tô giảm mạnh do chấm dứt ưu đãi lệ phí trước bạ quy định trong Nghị định 70/2020/NĐ-CP cũng như diễn biến phức tạp của dịch. Nhập khẩu ô tô nguyên chiếc tháng 1/2021 giảm 34,3% về số lượng và giảm 31% về giá trị so với tháng trước; nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô các loại đạt 384 triệu USD, giảm 27% so với tháng trước. Năm 2021, thị trường ô tô Việt Nam được dự báo sẽ có nhiều biến động bởi những thay đổi về chính sách ưu đãi thuế, phí đối với ô tô lắp ráp, sản xuất trong nước cũng như xe nhập khẩu, đặc biệt là xe từ châu Âu. Từ ngày 1/1/2021, các dòng xe xuất xứ từ EU sẽ được áp dụng mức thuế nhập khẩu mới từ 60,5 - 63,8% tuỳ theo dung tích xi-lanh, giảm từ 6,7 - 7,4 điểm phần trăm so với trước đây và sẽ tiếp tục giảm thêm ở những năm tới. Đây là yếu tố làm tăng sức cạnh tranh với ô tô từ các thị trường khác cũng như ô tô lắp ráp trong nước.

2.5. Ngành gỗ và các sản phẩm từ gỗ

Những tháng đầu năm 2021, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng trưởng cao. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong hai tháng năm 2021 ước đạt 2,44 tỷ USD, tăng 51% so với cùng kỳ năm 2020.Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ ước đạt 1,87 tỷ USD, tăng 58,5%. Đồ nội thất bằng gỗ là mặt hàng xuất khẩu chính trong tháng 1/2021 với kim ngạch xuất khẩu đạt 978,2 triệu USD, tăng 77,7% so với tháng 1/2020, chiếm 73% tổng trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ có xu hướng tăng mạnh từ cuối năm 2020 do có nhiều đơn hàng lớn từ các đối tác EU và Mỹ. Xuất khẩu sang Mỹ, đặc biệt là đồ gỗ nội thất, trong năm 2021 và một vài năm tới là khả quan do thị trường nhà ở Mỹ tăng trưởng mạnh, kéo theo nhu cầu về đồ nội thất gia đình tăng.

2.6. Ngành sản xuất máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác

Xuất nhập khẩu: Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác trong 2 tháng năm 2021 đạt 5,5 tỷ USD, tăng mạnh 72,6% so với cùng kỳ năm 2020. Xuất khẩu sang các thị trường chính trong tháng 2/2021 tăng cao: Hoa Kỳ tăng 185%; EU tăng 62,6%; Hàn Quốc tăng 18%. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác trong 2 tháng năm 2021 đạt 6,81 tỷ USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm 2020, do sản xuất trong nước đã phần nào hồi phục trở lại. Trung Quốc tiếp tục là nhà cung cấp máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng lớn nhất với kim ngạch là 3,37 tỷ USD, tăng mạnh 70,7%..2.6. Ngành thép

Xuất nhập khẩu: Trong 2 tháng năm 2021, lượng sắt thép xuất khẩu đã cán mốc gần 1,7 triệu tấn, tăng 44% so với cùng kỳ năm 2020 và trị giá đạt 1,15 tỷ USD, tăng 75,6%. Lượng xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 43% về lượng (301 nghìn tấn) so với cùng kỳ 2020; sang Indonesia tăng 42% (182 nghìn tấn) và sang Mêxicô tăng gấp 2,7 lần. Kim ngạch nhập khẩu sắt thép trong 2 tháng đầu năm 2021 đạt 1,6 tỷ USD, tăng 31,6% so với cùng kỳ năm 2020.

Thị trường trong nước: Ước tính nhu cầu thép trong nước năm 2021 sẽ tăng khoảng 3-5% so với năm 2020 do việc thi công các dự án trọng điểm. Ngoài ra, việc thực thi CPTPP, EVFTA cũng được kỳ vọng thúc đẩy xuất khẩu của ngành tới các thị trường mới. Đối với CPTPP, việc gỡ bỏ thuế quan sẽ giúp doanh nghiệp ngành thép Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu đồng thời nhập khẩu nguyên liệu từ các quốc gia có lợi thế như Australia.

3.  Khu vực dịch vụ

3.1. Bán buôn, bán lẻ

Hoạt động thương mại và du lịch tháng 2/2021 giảm so với tháng 1 do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán và dịch COVID-19 tại một số địa phương. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 2/2021 ước tính đạt 439,7 nghìn tỷ đồng, giảm 5,4% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 354,5 nghìn tỷ đồng, giảm 3,5% và tăng 10,5%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 41,5 nghìn tỷ đồng, giảm 11,5% và giảm 0,1%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 915 tỷ đồng, giảm 40,8% và giảm 60,8. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 904,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5,49% so với cùng kỳ năm 2020 và tăng 5,52% sau khi loại trừ yếu tố giá, cao hơn tốc độ tăng 5,4% của 2 tháng đầu năm 2020. Doanh thu bán lẻ hàng hóa chiếm 79,8%; tăng 7,8%, thấp hơn tốc độ tăng 9,4% của 2 tháng năm 2020. Trong bối cảnh người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, hạn chế mua sắm, tốc độ tăng doanh thu bán lẻ 7,8% là đáng kể[1]. Trong đó, doanh thu một số nhóm hàng tăng: Lương thực, thực phẩm tăng 9,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,7%; may mặc tăng 4,2%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 3,1%; phương tiện đi lại tăng 2,6%. Dịch COVID-19 bùng phát vào thời điểm Tết Nguyên đán đã khiến hoạt động ăn uống, du lịch nghỉ dưỡng giảm, khiến doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu du lịch lữ hành giảm 62,1% so với cùng kỳ năm trước.

3.2. Ngành vận tải, kho bãi

Thị trường quốc tế: Trong tháng 3/2021, tình trạng tắc nghẽn tại các cảng ở Mỹ vẫn tiếp tục và lan sang các cảng bên ngoài Bắc Mỹ, ngay cả khi giá cước vận chuyển của hai tuyến chính từ Trung Quốc đến Mỹ và Châu Âu đã giảm. Giá cước vận tải từ châu Á đã giảm kể từ cuối tháng 2/2021, giá cước giao ngay đã giảm từ mức đỉnh 4.922 USD/FEU vào ngày 26/2/2021 xuống còn 4.197 USD/FEU vào ngày 4/3. Theo Frieghtos Baltic Index (FBX) giá cước giao ngay trên tuyến từ Viễn Đông đến Châu Âu đã lên mức cao nhất là 8.306 USD/FEU vào cuối tháng 2 và giảm xuống mức 7.874 USD/FEU trong nửa đầu tháng 3.

Trong nước: Tình hình thiếu container vận chuyển trong tháng 3/2021 đã giảm nhưng giá cước vận tải biển ở Việt Nam vẫn ở mức cao. Hiện nay khoảng 40% doanh nghiệp gặp khó khăn trong giao nhận container rỗng tại điểm tập kết, làm tăng thời gian lưu kho chờ xuất khẩu, khiến chi phí lưu kho, lưu bãi tăng lên khoảng 5 - 10% giá trị lô hàng và có thể làm giảm chất lượng hàng hóa.

3.3. Ngành bất động sản

Thị trường bất động sản năm 2021 tiếp tục hồi phục. Số lượng doanh nghiệp bất động sản thành lập mới trong 2 tháng đầu năm 2021 là 1.057 doanh nghiệp, tăng 33,6% so với cùng kỳ năm 2020. Đầu tư nước ngoài đăng ký vào lĩnh vực bất động sản đạt 485 triệu USD, chiếm gần 9% tổng vốn đăng ký vào Việt Nam. Các dự án bất động sản, nhà ở tầm trung được dự báo sẽ tăng mạnh trong năm 2021 do đáp ứng được nhu cầu thực của người dân và sẽ tiếp tục thu hút đầu tư, gồm cả vốn tự có, vốn vay ngân hàng và vốn huy động từ người mua. Trong khi đó, phân khúc bất động sản bán lẻ, nghỉ dưỡng, khách sạn vẫn chịu thiệt hại nặng nề bởi dịch bệnh. Đầu tư vào bất động sản nhà ở đáp ứng nhu cầu sống xanh, lành mạnh và những khu dân cư được quy hoạch tốt dự báo tăng sẽ giúp định hướng phát triển bền vững ngành xây dựng và thị trường bất động sản trong năm 2021 và cả trong trung hạn, dài hạn.

3.4. Du lịch

Tiến độ hồi phục của ngành du lịch Việt Nam phụ thuộc vào tiến độ tiêm chủng vaccine toàn cầu, chính sách du lịch của các nước, kinh tế và môi trường. Theo tổ chức Du lịch thế giới cần 3-4 năm để du lịch quốc tế phục hồi. Do vậy, năm 2021, du lịch nội địa vẫn là mảng kinh doanh trọng tâm của ngành du lịch Việt Nam. Các công ty du lịch sẽ tập trung phát triển các sản phẩm phù hợp với xu hướng du lịch mới (đi ngắn ngày, đi nhiều lần, đi nhóm nhỏ, quan tâm tới tính an toàn và sức khỏe, trải nghiệm thiên nhiên và văn hóa) cũng như thực hiện các chương trình kích cầu nội địa. Với việc kiểm soát dịch tốt, mùa du lịch hè 2021 được kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh. Hiện tại đã có nhiều đăng ký cho các tour du lịch trong tháng 6-8/2021.

3.5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

Tài chính, ngân hàng: Bước sang tháng 3/2021, mặt bằng lãi suất huy động của các ngân hàng vẫn tiếp tục giữ ở mức thấp và ít biến động so với đầu tháng 2/2021. Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng và lợi suất trái phiếu Chính phủ đã chạm mức đáy trong khi lãi suất huy động cũng giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 15 năm qua. Theo đó, mặt bằng lãi suất có thể sẽ chạm đáy vào nửa đầu năm 2021 và tăng nhẹ trở lại trong nửa cuối năm 2021.

Về tín dụng, với định hướng thúc đẩy tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã nới điều kiện tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng đáp ứng đủ 2 yếu tố: có sức khỏe tài chính và có khả năng tăng trưởng. Theo đó, các ngân hàng được nới điều kiện tăng trưởng tín dụng bao gồm: Techcombank, ACB, VPBank, TienPhongBank, VIB và MBBank. Nhóm ngân hàng tư nhân năng động này được dự đoán sẽ tăng trưởng mạnh so với năm 2020 khi nhu cầu tín dụng của nhóm khách hàng cá nhân tăng trở lại.

Bảo hiểm: Lợi nhuận chung trong năm 2021 của các công ty bảo hiểm có thể giảm khi lãi suất thấp do phần lớn danh mục đầu tư của các công ty này là tiền gửi ngân hàng và trái phiếu Chính phủ. Năm 2021, tăng trưởng của ngành bảo hiểm dự kiến sẽ có sự phân hóa giữa khối nhân thọ và phi nhân thọ: doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ sẽ tăng trở lại theo sự phục hồi kinh tế do tăng trưởng doanh thu không chịu sự chi phối của lãi suất; ngược lại, lãi suất thấp kéo dài sẽ khiến các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ khó khăn trong việc bán các sản phẩm có tính chất tiết kiệm. Tuy vậy, triển vọng ngành bảo hiểm năm 2021 cũng được đánh giá khả quan với tầm quan trọng của bảo hiểm được nhấn mạnh bởi do đại dịch COVID-19, nhà đầu tư ngoại ngày càng quan tâm đến khối phi nhân thọ Việt Nam khi thị trường bảo hiểm các nước này đã bão hòa. Về chính sách, Bộ Tài chính tiếp tục có những thay đổi chính sách nhằm gỡ khó cho doanh nghiệp bảo hiểm. Gần đây nhất Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 89/2020/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 26/12/2020, nhằm sửa đổi bổ sung 4 thông tư trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm mà quan trọng nhất là nội dung sửa đổi về trích lập dự phòng toán học, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ giảm gánh nặng chi phí dự phòng trong điều kiện lãi suất đầu tư và lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm mạnh và có thể tiếp tục duy trì trong năm 2021. Về dài hạn, những sửa đổi trong Dự thảo Luật kinh doanh Bảo hiểm 2020 sẽ tạo bước ngoặt quan trọng cho các doanh nghiệp phát triển cả về chất và lượng từ năm 2023.

3.6. Chứng khoán

Thị trường quốc tế: Chỉ số NASDAQ giảm mạnh ở nửa đầu tháng 03/2018 xuống mức 12,600 điểm nhưng tăng mạnh trở lại mức 13,500 vào giữa và cuối tháng 3/2021. Chỉ số HSI (Hong Kong) giảm nhẹ và giao động quanh mức 29,400. Chỉ số SSEC (sàn giao dịch Thượng Hải) sau đợt phục hồi trở lại và đạt mốc 3,655 điểm (mức cao nhất kể từ đầu năm 2016) vào cuối tháng 1/2021 đã giảm và giao động ở mức 3,400 điểm trong tháng 3/2021. Dòng vốn vào các quỹ ETF đổ vào cổ phiếu là 104 tỷ USD, tương đương 73,5% tổng lượng vốn vào cổ phiếu, tập trung vào thị trường Mỹ và các quỹ đầu tư đa quốc gia. Dòng vốn ETF đã trở lại thị trường Trung Quốc (+5,9 tỷ USD) sau mức sụt giảm mạnh (-6,4 tỷ USD) hồi tháng 1/2021. Diễn biến tích cực của dòng vốn ETF xuất phát từ gói kích thích trị giá 1900 tỷ USD của Hoa Kỳ và Fed tuyên bố sẽ giữ nguyên chính sách tiền tệ nhằm duy trì mức lạm phát hiện tại khiến cho thị trường đầu tư có tính ổn định cao hơn.

Thị trường Việt Nam: Thị trường chứng khoán tháng 3/2021 chứng kiến sự phục hồi tích cực kể từ cuối quý IV/2020 với 2 tác nhân chính đó là sự thành công trong chiến dịch phòng chống dịch COVID-19 lần ba và việc tiếp cận được vaccine. Mặt bằng lãi suất vẫn đang tiếp tục xu hướng giảm (biên độ nhẹ) sẽ hỗ trợ các hoạt động đầu tư kinh tế tiếp tục hồi phục và tạo lợi thế cho kênh chứng khoán. Chỉ số Vn-index đã cho thấy sự phục hồi trong phần lớn thời gian tháng tháng 03/2021 khi tăng lên và giao động tại mức xung quanh 1180 điểm (so với mức 1000 điểm đầu tháng 02/2021). Các nhóm ngành đóng góp vào sự tăng trưởng của chỉ số VN-index trong tháng 3 là bốn nhóm ngành chính có tăng trưởng 2 con số: Tài chính (+17,3%), Vật liệu (+14,9% , Năng lượng (+19,7%) và Công nghệ thông tin (+21,4%).


[1] Theo Khảo sát của Nielsen Việt Nam, do ảnh hưởng của dịch bệnh, những hộ gia đình có thu nhập 6 triệu đồng trở xuống bắt buộc phải thắt chặt chi tiêu; những hộ có thu nhập từ 8 đến 20 triệu đồng buộc phải điều chỉnh chi tiêu, chuyển từ các sản phẩm cao cấp sang sử dụng các mặt hàng bình dân hơn, chủ yếu rơi vào nhóm thực phẩm, thức uống. Riêng nhóm thu nhập cao chi tiêu nhiều hơn do nhiều khoản khác ngoài du lịch, nghỉ dưỡng do chi tiêu cho du lịch, nghỉ dưỡng không còn do dịch bệnh. 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202