Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Sự phát triển của tầng lớp trung lưu trên quy mô toàn cầu và vai trò đối với tăng trưởng kinh tế

Cập nhật lúc: 08/01/2021 10:36:00 AM

Tầng lớp trung lưu toàn cầu

Tầng lớp trung lưu (TLTL) là một khái niệm tương đối phức tạp, phụ thuộc nhiều vào bối cảnh nghiên cứu cũng như điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể. Về cơ bản, TLTL của một quốc gia thường bao gồm những người không thuộc tầng lớp nghèo, cũng không thuộc tầng lớp giàu, họ là những người có thu nhập nhất định và có khả năng đảm bảo tiêu dùng ở mức trung trong xã hội. Chính vì thế, theo cách tiếp cận kinh tế học, việc xác định quy mô của TLTL thường dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu bình quân ngày/người. Do đó, dân số có thu nhập trung bình” hay “tầng lớp trung lưu” trở thành hai khái niệm thường được sử dụng đồng thời, thay thế nhau, tương đương nhau bởi các nhà kinh tế học. Tuy nhiên, bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu khác đã tiếp cận với khái niệm TLTL dựa trên cách tiếp cận tổng hợp, trong đó có xét đến cả các yếu tố xã hội khác như nghề nghiệp, trình độ học vấn, … 

Ngay cả khi chỉ xem xét TLTL trên góc độ thu nhập và chi tiêu, sự khác biệt trong sử dụng khoảng chi tiêu, số liệu phân tích theo sức mua tương đương 2005 hay 2011 (PPP2005 hay PPP2011), cũng như những khác biệt trong cách thu thập số liệu giữa các nghiên cứu của các tác giả khác nhau cũng khiến kết quả đo lường TLTL có những khác biệt đáng kể. Ví dụ như Goldman Sachs đã định nghĩa người thuộc TLTL là người có chi tiêu bình quân ngày từ 16 đến 82 đô la Mỹ (PPP2005), và do đó ước tính 1,5 tỷ người trên thế giới thuộc TLTL từ năm 2008. Tạp chí nghiên cứu của McKinsey thì sử dụng khoảng giới hạn từ 9 đến 77 đô la Mỹ (PPP2005), và do đó quy mô ước tính của TLTL mà nhóm này đưa ra lớn hơn nhiều, khoảng 2 tỷ người vào năm 2009, … Kochahar (2015) thì xác định những người có chi tiêu bình quân/người/ngày dao động từ 10,01 đến 20 đô la Mỹ thuộc TLTL, và theo đó ước lượng TLTL theo nhà nghiên cứu này chỉ khoảng 783 triệu người vào năm 2011. Trong khi đó, theo nghiên cứu của Kharas, nếu coi những người có mức chi tiêu bình quân/người/ngày dao động trong khoảng từ 11 đến 110 đô la Mỹ, tính theo sức mua tương đương 2011 thuộc TLTL toàn cầu, thì vào năm 2015, TLTL toàn cầu ước tính đã chạm mốc 3 tỷ người,và đến năm 2020, lần đầu tiên trong lịch sử, đại đa số dân số toàn cầu sẽ thuộc TLTL.

Bảng 1. Quy mô tầng lớp trung lưu toàn cầu theo các khoảng thu nhập khác nhau

 

Khoảng thu nhập/người/ngày (đô la Mỹ)

PPP

Quy mô TLTL (triệu người)

Mốc thời gian ước lượng

Goldman Sachs

16-82

2005

1.500

2008

McKinsey

9-77

2005

2.000

2009

Kochhar

10,01-20

2011

783

2011

Kharas

11-110

2011

3.000

2015

Nguồn: Kharas, 2017; Kochhar, 2015

Bên cạnh đó, do đặc thù sự phát triển của TLTL có mối liên hệ mật thiết với mức độ phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng về quy mô và số lượng của TLTL tại các quốc gia khác nhau trên thế giới, trong các giai đoạn khác nhau do đó cũng khác nhau. Hiện nay, TLTL trên phạm vi toàn cầu đang có sự tăng trưởng ấn tượng chưa từng thấy về quy mô trong lịch sử. Nếu như trước đây, TLTL là khái niệm chỉ được nhắc đến và tồn tại chủ yếu tại các quốc gia phát triển, các nền kinh tế có thu nhập cao thì hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường tại các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi đã giúp các quốc gia này chứng kiến sự chuyển mình chưa từng có trong lịch sử, đó chính là sự phát triển mạnh mẽ của TLTL và sự gia tăng nhanh chóng về quy mô của tầng lớp này. Dưới tác động tích cực từ tăng trưởng kinh tế toàn cầu, hàng triệu người đã thoát nghèo, đồng thời có cơ hội gia tăng thu nhập, chuyển lên các thang bậc kinh tế cao hơn, trong đó có TLTL, và do đó mở rộng quy mô của tầng lớp này.

Vào năm 2014, Clara đã đưa ra khái niệm về “quốc gia trung lưu” – theo đó, một quốc gia sẽ được gọi là trung lưu khi đại bộ phận dân số của nước đó thuộc về TLTL thay vì người nghèo, đồng thời cô cũng đưa ra ước lượng cá nhân về thời điểm một số quốc gia trở thành quốc gia trung lưu dựa trên khái niệm này.

Bảng 2. Mốc thời gian khi một quốc gia có đa số dân số thuộc TLTL

1960s

Jamaica, Singapore

1970s

Malta, Đài Loan, Bờ Biển Ngà, Seychelles, Hàn Quốc

1980s

Costa Rica, Uruguay

1990s

Chile, Peru, Bosnia và Herzegovina, Albania, El Salvador

2000s

Nga, Malaysia, Belarus, Iran, Tusnisia, Kazakhstan, Venezuela, Ukraine, Cộng hoà Dominica, Brazil, Syria, Amenia, Thái Lan, Colombia

2010s

Thế giới, Panama, Ecuador, Ai Cập, Turkmenistan, Georgia, Sri Lanka, Botswana, Moldova, Paraguay, Gabon, Jordan, Trung Quốc

2020s

Indonesia, Nam Phi, Ấn Độ, Azerbajian, Campuchia, Việt Nam, Fiji, Bangladesh, Phillipines, Tajikistan, Uzbekistan, Guatemala, Morocco, Sudan

 

Nguồn: Clara, 2014

Clara cũng ước tính, kể từ 2014 trở đi, một nửa dân số trung lưu thế giới đến từ các quốc gia mới nổi và các quốc gia đang phát triển, và từ 2018, thế giới lần đầu tiên trong lịch sử sẽ chứng kiến sự chiếm lĩnh đa số dân số toàn cầu là TLTL, thay vì người nghèo như trước đây. Cùng chung quan điểm đó, Karas cho rằng, TLTL toàn cầu sẽ có tốc độ tăng trưởng trung bình 150 triệu người/ năm đến 2030. Trong đó, có đến 90% dân số mới gia nhập TLTL toàn cầu trong giai đoạn 2015-2022 được dự báo sẽ tới từ khu vực Châu Á, mà chủ yếu là tới từ Trung Quốc và Ấn Độ.

Đóng góp quan trọng của TLTL cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

TLTL đóng vai trò quan trọng trong xã hội và được cho là động lực của tăng trưởng. Quan điểm TLTL là nền tảng và động lực cho phát triển và tăng trưởng kinh tế đã được nhắc đến từ lâu trong khoa học xã hội. Nghiên cứu của các nhà sử học kinh tế như Adelman và Morris (1967), Landes (1998) đều cho thấy nhân tố then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế trong thế kỷ 19 tại châu Âu và Vương quốc Anh chính là TLTL đông đảo tại các quốc gia này, đây là tầng lớp xã hội đã thiết lập nên nền tảng thể chế và kinh tế cho cuộc cách mạng công nghiệp.

Một trong những tác động tích cực của TLTL tới phát triển và tăng trưởng kinh tế chính là tăng cầu tiêu dùng. Số liệu từ nghiên cứu của Kharas (2017) cho thấy, sức tiêu thụ của TLTL toàn cầu trong năm 2015 xấp xỉ 35 nghìn tỷ đô la Mỹ. Như vậy, TLTL toàn cầu chính thức trở thành nhóm tiêu dùng thống trị thị trường hàng hoá, khi sức tiêu thụ của nhóm này là cao nhất, cao hơn cả nhóm có thu nhập cao (nhóm những người có chi tiêu nhiều hơn 110 đô la Mỹ/người/ngày) và các nhóm có thu nhập thấp hơn mức  trung bình (những người chi tiêu ít hơn 11 đô la Mỹ/người/ngày), tương ứng là 11 nghìn tỷ đô la Mỹ và 8 nghìn tỷ đô la Mỹ. Sức tiêu thụ của TLTL toàn cầu vào năm 2020 ước tính có thể nhiều hơn năm 2015 khoảng 7,4 nghìn tỷ đô la Mỹ, và gần 80% tăng thêm trong đó đến từ khu vực châu Á.

Bảng 3. Chi tiêu từ TLTL toàn cầu (PPP 2011, tỷ đô la và %)

Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ (PPP2011), %

 

2015

2020

2025

2030

 

#

%

#

%

#

%

#

%

Bắc Mỹ

6.174

18

6381

15

6.558

13

6.681

10

Châu Âu

10.920

31

11.613

27

12.159

23

12.573

20

Trung và Nam Mỹ

2.931

8

3.137

8

3.397

8

3.630

6

Châu Á Thái Bình Dương

12.332

36

18.174

43

26.519

51

36.631

57

Sub-Saharan Africa

915

3

1.042

2

1.295

2

1.661

3

Trung Đông và Bắc Phi

1.541

4

1.933

5

2.306

4

2.679

4

Toàn thế giới

34.814

100

42.279

100

52.234

100

63.854

100

Nguồn: Homi Kharas, 2017

Đến năm 2030, sức tiêu thụ của TLTL toàn cầu được dự báo sẽ đạt mức 63,8 nghìn tỷ đô la Mỹ, nhiều hơn năm 2015 là 29 nghìn tỷ đô la Mỹ; trong đó, phần lớn sự mở rộng của thị trường là do sự tăng trưởng TLTL vẫn đến từ từ các quốc gia châu Á. Đáng chú ý, các quốc gia đang phát triển, và các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp hiện nay như Ấn Độ, Indonesia, và Việt Nam được dự báo sẽ có thị trường trung lưu lớn hơn hiện nay khoảng 15 nghìn tỷ đô la Mỹ.

Sự phát triển của TLTL không chỉ có mối liên hệ tích cực, trực tiếp với tăng thu nhập bình quân đầu người, thúc đẩy phát triển kinh tế, mà còn góp phần thúc đẩy quá trình tích luỹ vốn nhân lực (đặc biệt là giáo dục trung học và giáo dục bậc cao), tăng đầu tư vào giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ (tuổi thọ, tỷ lệ tiêm chủng…), cơ sở hạ tầng... Do đó, sự tăng trưởng của TLTL không chỉ mang lại lợi ích cho chính những người thuộc tầng lớp này, mà còn mang lại lợi ích cho toàn xã hội, trong đó có nhóm người nghèo. TLTL vì thế có thể coi là xương sống của xã hội, là nhân tố một mặt thúc đẩy kinh tế phát triển, mặt khác đảm bảo ổn định xã hội, gia tăng mối liên kết giữa các nhóm xã hội khác nhau, đặc biệt là giảm căng thẳng giữa người nghèo và người giàu. Việc mở rộng TLTL vì thế, vừa là đầu vào, là nhân tố thúc đẩy, đồng thời là kết quả của sự phát triển.

Tầng lớp trung lưu là động lực mạnh mẽ cho phát triển

Brazil và Hàn Quốc là hai ví dụ điển hình cho thấy: nếu các quốc gia có thể tận dụng triệt để mối liên hệ mật thiết giữa tăng trưởng TLTL với phát triển kinh tế quốc gia trong dài hạn thì có thể tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Hàn Quốc và Brazil là hai quốc gia có tốc độ phát triển tương đương nhau trong những năm 1960, 1970, với tốc độ tăng trưởng trung bình là 5,6% cho Brazil và 6,5% cho Hàn Quốc. Cả Brazil và Hàn Quốc đều đã trở thành nước có thu nhập trung bình vào giai đoạn 1980 (Brazil vào năm 1980 và Hàn Quốc vào năm 1986), với thu nhập bình quân đầu người tương ứng là 7.600 đô la Mỹ tại Brazil và 7.700 đô la Mỹ tại Hàn Quốc (PPP2005). Tuy nhiên, cơ cấu phát triển ở hai quốc gia này là khác nhau. Nếu như Hàn Quốc được đặc trưng bởi có sự đồng thuận và phát triển mạnh mẽ của TLTL, thể hiện qua việc hơn một nửa dân số của quốc gia này gia nhập TLTL vào những năm 1980, nền kinh tế Hàn Quốc có khả năng đáp ứng nhu cầu nội địa cao, cũng như tận dụng được lợi thế từ vốn tri thức trong nước để hội nhập cũng như leo lên các thang bậc cao hơn trong chuỗi giá trị, tạo ra lợi thế trong cung ứng dịch vụ và công nghệ chất lượng cao. Kết quả là Hàn Quốc đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ trong hai thập kỷ liền sau. Ngày nay, hơn 94% dân số Hàn Quốc thuộc TLTL, và Hàn Quốc là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới.

Trong khi đó, đối với Brazil, quốc gia này đã không thể tạo ra sự chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên sự đổi mới, sáng tạo, khi quy mô của TLTL tại đây quá nhỏ. Brazil được đặc trưng bởi mức độ bất bình đẳng cao, quy mô TLTL nhỏ vào đầu những năm 1980 (chỉ chiếm khoảng 28% dân số cả nước), nhu cầu tiêu thụ nội địa giữ ở mức thấp trong những thập kỷ liền sau, cùng với đó là thiếu các kỹ năng cần thiết cho tăng trưởng sản xuất, nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu hàng hoá. Do đó, tốc độ tăng trưởng của Brazil sau những năm 1980 thấp hơn Hàn Quốc rất nhiều, và ngày nay, GDP bình quân đầu người của Brazil ít hơn 1 nửa so với Hàn Quốc, mức độ bất bình đẳng trong xã hội giữ ở mức cao, đồng thời, tăng trường TLTL chậm, nhóm này hiện nay chiếm chưa tới 1 nửa dân số Brazil (Clara, 2014, p. 25).

Nguồn: Clara (2014).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Clara, Max Buge. 2014. A Cartography of the New Middle Classes in Developing and Emerging Countries. German Development Institute
  2. Hagen KOO. 2016. The Global Middle Class: How is it made, what does it represent?. Globalization. Vol. 13, No. 4, 440-453
  3. Kharas, H. 2017. The Unprecedented expansion of the global middle class, an update. Global Economy and Development.
  4. Kharas, H. 2010. The Emerging Middle Class in Developing Countries (No. Working Paper No. 285). OECD Development Center.
  5. Kochhar, Rakesh. 2015, “A Global Middle Class Is More Promise than Reality: From 2001 to 2011, Nearly 700 Million Step Out of Poverty, but Most Only Barely.” Washington, D.C.: Pew Research Centre, July
  6. OECD (2019), Trends Shaping Education 2019, OECD Publishing, Paris.
  7. OECD (2019), Under Pressure: The Squeezed Middle Class, OECD Publishing, Paris.
  8. Razafimandimby, A. R. 2017. Middle-Class Composition and Growth in Middle-Income Countries. ADBI Working Paper 753. Tokyo: Asian Development Bank Institute.
  9. World Bank. 2018. Riding the Wave, An East Asian miracle for the 21st Century. Washington D.C: World Bank Group.
Trích nguồn:
Tác giả: Quỳnh Anh
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202