Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Thách thức đối với việc thực hiện mục tiêu đề ra trong Chiến lược tăng trưởng xanh

Cập nhật lúc: 30/12/2020 12:00:00 PM

Ngày 25/9/2012, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến 2050. Thông qua Chiến lược, Chính phủ đã đưa ra quan điểm rõ ràng trong việc thực hiện TTX. Một trong những quan điểm nổi bật của Chiến lược, đó là coi TTX là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐKH.

1.         Mục tiêu của Chiến lược

Mục tiêu chung

TTX tiến tới nền kinh tế các-bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.

Mục tiêu cụ thể

- Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành hiện có và khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên với giá trị gia tăng cao;

- Nghiên cứu, ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ tiên tiến nhằm sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí nhà kính, góp phần ứng phó hiệu quả với BĐKH;

- Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường thông qua tạo nhiều việc làm từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh.

2. Một số thách thức đối với việc thực hiện mục tiêu đề ra trong Chiến lược

Thứ nhất, về giảm khí thải trong lĩnh vực năng lượng

Theo Báo cáo thống kê năng lượng thế giới năm 2019 của tổ chức BP Statistical Review, mức độ tiêu thụ năng lượng của Việt Nam gia tăng rất nhanh và vượt xa các nước trong khu vực. Tốc độ tiêu thụ năng lượng tăng trung bình hàng năm trong giai đoạn 2007-2017 của Việt Nam là 9,4%/năm. Trong khi đó, Trung Quốc chỉ có 3,9%, Malaysia 2,3%, Thái Lan 3,3%, Indonesia 2,8% và Philippines 5,4% (BP, 2019). Để đáp ứng nhu cầu điện tăng cao, Bộ Công Thương đã có quyết định về Kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện cho năm 2019. Theo đó, trong tổng nguồn sản xuất 241.958 triệu Kwh, cơ cấu nhiệt điện than chiếm 48,2%, nhiệt điện dầu khí và năng lượng tái tạo chỉ khoảng 19,8%. Với việc tiếp tục tiêu thụ lượng nhiệt than là chủ yếu, lượng khí thải vẫn duy trì ở mức cao, khiến cho việc đạt mục tiêu giảm khí thải theo Chiến lược đề ra là khó có thể đạt được nếu không có các biện pháp quyết liệt hơn trong việc giảm bớt tiêu thụ năng lượng từ sản xuất nhiệt điện than.

Thứ hai, về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên năng lượng

Hiện nay, tỷ lệ năng lượng đã tiết kiệm được của Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng tiết kiệm năng lượng quốc gia, nhất là trong một số ngành công nghiệp và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đánh giá, tiềm năng tiết kiệm năng lượng của nhiều ngành công nghiệp trong nước như chế biến thực phẩm, dệt may, thép và điện than đều lớn hơn 20%. Trong đó, ngành công nghiệp xi măng và ngành nông nghiệp được cho là có tiềm năng tiết kiệm năng lượng rất lớn, có thể lên tới 50%. Bên cạnh đó, tiềm năng tiết kiệm năng lượng tại khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa không hề nhỏ. Hiện nay, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta chiếm số lượng áp đảo so với doanh nghiệp lớn (chiếm 98,1% năm 2017), trong đó doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ cùng với vốn và điều kiện kỹ thuật rất lạc hậu chiếm đa số. Các doanh nghiệp này chiếm khoảng 40% tổng mức năng lượng tiêu thụ trong lĩnh vực công nghiệp.

Thứ ba, đối với ngành công nghiệp môi trường

 Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi trường chủ yếu có quy mô vốn nhỏ và khả năng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường còn thấp. Hiện nay, năng lực ngành công nghiệp môi trường mới đáp ứng được từ 2-3% nhu cầu xử lý nước thải đô thị; 15% nhu cầu xử lý chất thải rắn và khoảng 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại… Điều này khiến cho chỉ tiêu đầu tư phát triển các ngành hỗ trợ bảo vệ môi trường và làm giàu vốn tự nhiên đạt 3-4% GDP vào năm 2020 là khó đạt được.

Thứ tư, về một số chỉ tiêu liên quan tới Xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững

Với chỉ tiêu diện tích cây xanh đô thị: tuy đã có sự tăng dần cả về số lượng và chất lượng nhưng vẫn chưa đạt tiêu chuẩn về độ che phủ cũng như cân bằng hệ sinh thái. So với các quy chuẩn thì tỷ lệ diện tích đất dành cho cây xanh còn rất thấp. Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT, tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, tỷ lệ trung bình diện tích cây xanh trên đầu người khoảng 2 m². Mật độ này không đạt quy chuẩn của đô thị (khoảng 7-9 m²), tương ứng chỉ bằng 1/10 chỉ tiêu cây xanh của các thành phố tiên tiến trên thế giới. Hệ thống cây xanh mới hình thành và tập trung tại các đô thị lớn và trung bình, còn tại các đô thị nhỏ, cây xanh chiếm diện tích không đáng kể.

Với chỉ tiêu tỷ trọng dịch vụ vận tải công cộng ở đô thị lớn và vừa: tuy đã có sự đầu tư, cải tạo cơ sở hạ tầng, đồng thời huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế nhưng tỷ lệ người dân tham gia vào các phương tiện công cộng ở các thành phố lớn còn khiêm tốn so với phương tiện cá nhân. Chẳng hạn như ở Hà Nội, tính đến nay chỉ có 12% người dân lựa chọn xe buýt, trong khi có đến 60% người dân chọn xe máy làm phương tiện di chuyển hàng ngày. Ngoài ra, vận tải hành khách công cộng tại TP. Hồ Chí Minh mới chỉ đáp ứng được khoảng 9% nhu cầu đi lại của người dân, khoảng cách khá xa so với mục tiêu đề ra. Hơn nữa, khối lượng vận tải công cộng tại Thành phố tính đến cuối năm 2018 giảm 3,6% so với cùng kỳ năm 2017. Theo đó, với số liệu về tỷ trọng dịch vụ vận tải công cộng ở hai đô thị được coi là có dịch vụ vận tải công cộng lớn nhất cả nước tương đối thấp, thì việc đạt được mục tiêu 35-45% tỷ trọng dịch vụ vận tải công cộng ở hầu hết các đô thị lớn và vừa đến năm 2020 theo Chiến lược TTX là rất khó khả thi, nhất là trong bối cảnh thị phần xe công nghệ ngày càng có xu hướng gia tăng mạnh ở các đô thị lớn vì sự tiện dụng và giá thành cạnh tranh.

Tài liệu tham khảo

1.         Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến 2050 của Thủ tướng Chính phủ.

2.         BP Statistical Review of World Energy, 2019.

3.         Bộ TN&MT, 2016. “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2016: Chuyên đề Môi trường đô thị”, NXB Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội. 

4.         MPI&GIZ, 2017. Báo cáo đánh giá việc thực hiện Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh trong giai đoạn 2013-2017. Chương trình Cải cách Kinh tế vĩ mô/Tăng trưởng xanh do GIZ hỗ trợ.

5.         Nguyễn Thế Chinh và Lại Văn Mạnh, 2017. Doanh nghiệp bảo vệ môi trường với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đất nước, Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường.

Trích nguồn:
Tác giả:
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202