Tin Kinh tế- xã hội  > Tài chính ngân hàng

Tình hình huy động và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của Việt Nam thời gian qua

Cập nhật lúc: 01/12/2020 12:00:00 AM

ODA và vốn vay ưu đãi là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển của Việt Nam trong điều kiện nguồn lực trong nước còn nhiều hạn chế. Trung bình giai đoạn 2011-2019, vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã đóng góp 6,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, 34,09% vốn đầu tư từ NSNN và chiếm khoảng 2,4% GDP Việt Nam.

Tính đến năm 2019, Việt Nam đã tiếp nhận trên 85 tỷ USD vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Trong đó, 7 tỷ USD là vốn viện trợ không hoàn lại (chiếm 8% tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi), trên 70 tỷ USD là vốn vay với lãi suất dưới 2% (tương đương 90% tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi) và 1,7 tỷ USD vốn vay kém ưu đãi nhưng lãi suất vẫn thấp hơn vốn vay thương mại (chiếm 2%). Lượng giải ngân đạt gần 65 tỷ USD. Tính riêng trong giai đoạn 2016-2020[1], huy động vốn ODA và vốn vay ưu đãi đạt 12,553 tỷ USD, trong đó vốn vay là 12,04 tỷ USD (vay ODA: 9,169 tỷ USD, vay ưu đãi: 2,871 tỷ USD), viện trợ không hoàn lại là 513 triệu USD.

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Việt Nam đang là nước tiếp nhận nguồn vốn ODA nhiều nhất trong khối các nước ASEAN, với khoảng 35-40% tổng vốn ODA vào khu vực ASEAN (2010-2017), với tỷ trọng ODA/GDP ở mức cao, khoảng 4% GDP trong những năm đầu của thập niên 1990, 3% GDP trong những năm 2000-2010 và khoảng 2% GDP năm 2011-2019, so với mức chưa đến 1% GDP ở các nước ASEAN khác.

Hình 1: Tỷ lệ vốn ODA (ròng) trên GDP của Việt Nam và một số quốc gia

(Đơn vị: %)

 

Nguồn: WDI (2019)

Vốn ODA được huy động chủ yếu vào các ngành giao thông vận tải, môi trường và phát triển đô thị, năng lượng và công nghiệp, nông nghiệp và phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo. Kết quả huy động vốn ODA được đánh giá là tương đối sát các mục tiêu, nguyên tắc và các lĩnh vực ưu tiên đề ra tại Quyết định số 251/QĐ-TTg ngày 17/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thời kỳ 2016 - 2020” và Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 - 2020, tầm nhìn 2021-2025” và đảm bảo các chỉ số nợ công, nợ chính phủ và mức bội chi NSNN trong giới hạn an toàn cho phép.

Hình 2: Cơ cấu vốn ODA huy động trong giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Việt Nam đã huy động vốn ODA và vốn vay ưu đãi từ 51 nhà tài trợ, gồm 28 nhà tài trợ song phương và 31 nhà tài trợ đa phương. Trong đó, khoảng 80% nguồn vốn ODA của Việt Nam được huy động từ 6 ngân hàng, gồm: Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM), Cơ quan phát triển Pháp (AFD) và Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW).

Tuy nhiên, dòng vốn ODA vào Việt Nam có xu hướng giảm đáng kể (đặc biệt khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2010) và trở nên ít ưu đãi hơn khi Việt Nam “tốt nghiệp” vốn viện trợ chính thức của Hiệp hội phát triển quốc tế - IDA (2017) và của Quỹ phát triển châu Á - ADF (2019). Đồng thời, đóng góp của ODA trong tổng đầu tư phát triển cũng như đầu tư từ NSNN cũng trong xu hướng giảm. Tỷ lệ vốn ODA/GDP giảm một nửa từ 2,9% trong giai đoạn 2011-2015 còn 1,5% trong giai đoạn 2016-2019. Tương tự, tỷ lệ ODA/Tổng đầu tư phát triển giảm từ 8,8% giai đoạn 2011-2015 xuống còn 4,7% giai đoạn 2016-2019. Đóng góp của ODA và vốn vay ưu đãi trong tổng vốn đầu tư từ NSNN cũng đã giảm từ 38,8% (2011-2015) xuống còn 27,3% (2016-2020).

Hình 3: Tỷ lệ vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong tổng đầu tư phát triển, đầu tư từ NSNN và trong GDP giai đoạn 2011-2015 và 2016-2019

Nguồn: Tính toán từ số liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính

Tỷ lệ giải ngân thấp và chậm là một hạn chế lớn và cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả thu hút và hạn chế dòng ODA vào Việt Nam. Tính đến 2019, tỷ lệ giải ngân lũy kế đạt khoảng 75% tổng vốn ODA và vay ưu đãi đã ký kết với Việt Nam. Tính riêng trong giai đoạn 2016-2020, theo kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn 2016-2020, vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài được điều chỉnh theo Nghị quyết của Quốc hội là 360.000 tỷ đồng. Đến hết năm 2019, tổng số đã giao trong dự toán NSNN của giai đoạn 2016-2019 là 244.300 tỷ đồng, bằng 67,9% kế hoạch điều chỉnh của cả giai đoạn. Số đã giải ngân, lũy kế từ năm 2016-2019 là 133.042 tỷ đồng, bằng 54,5% kế hoạch của cả giai đoạn 2016-2019, tương dương 36,96% kế hoạch trung hạn điều chỉnh giai đoạn 2016-2020. Nếu so với kế hoạch ban đầu (300.000 tỷ đồng), tỷ lệ giải ngân mới đạt 46%[2]. Tỷ lệ giải ngân đối với các khoản vay từ nhóm 6 ngân hàng phát triển[3] đã giảm từ 23,1% trong năm 2014 xuống còn 11,2% trong năm 2018, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu của nhóm 6 ngân hàng này. Trong đó, tỷ lệ giải ngân toàn cầu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018 lần lượt là 21% và 20,2%. Tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA chậm không chỉ làm phát sinh chi phí, ảnh hưởng tới việc thực hiện dự án, mà có thể dẫn tới tranh chấp hợp đồng với nhà thầu, ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam cũng như quyết định đầu tư của các nhà tài trợ.

Trong nỗ lực nâng cao hiệu quả thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA của Chính phủ, các chính sách, thể chế liên quan đã và đang tiếp tục được hoàn thiện. Nhiều chính sách quan trọng được ban hành như: Luật Đầu tư công (2014), Luật Xây dựng (2014), Luật Đấu thầu (2013), Luật Đất đai (2013) và Luật Bảo vệ môi trường (2014), Luật Ngân sách nhà nước (2015), Luật Điều ước quốc tế (2016), Luật quản lý nợ công (2017). Mới đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài thay thế cho Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2016 và Nghị định số 132/2018/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài. Chính phủ cũng đã xây dựng và hoàn thiện các nghị định hướng dẫn Luật quản lý nợ công (2017). Quốc hội ban hành Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 có hiệu lực từ 01/01/2020, trong đó có các quy định về vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi. Ngoài ra, ngày 6/11/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1489/QĐ-TTg phê duyệt Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 - 2020, tầm nhìn 2021-2025 trên cơ sở Báo cáo cập nhật định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2018-2020 và tầm nhìn 2021-2025 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư để định hướng cho công tác thu hút và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong bối cảnh mới… đảm bảo tính đồng bộ, tạo hành lang pháp lý quan trọng trong bối cảnh tình hình kinh tế có nhiều thay đổi, góp phần tăng tính hiệu lực và hiệu quả trong lĩnh vực này.


[1] Số liệu thống kê tính đến tháng 4/2020.

[2] Cụ thể, năm 2016, giải ngân đạt 42.552 tỷ đồng, bằng 81,1% dự toán; năm 2017, giải ngân đạt 56.578 tỷ đồng, bằng 76,4% dự toán; năm 2018, giải ngân đạt 32.307 tỷ đồng, bằng 53,6% kế hoạch; 5 tháng đầu năm đạt 1.605 tỷ đồng, bằng 2,7% kế hoạch.

[3] Các đối tác lớn của Việt Nam.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202