Tin Kinh tế- xã hội

Tình hình phát triển một số ngành tháng 10 và 10 tháng đầu năm

Cập nhật lúc: 10/11/2020 12:00:00 PM

Trước tình hình dịch Covid-19 được kiểm soát tốt, các lĩnh vực của nền kinh tế đang bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện bình thường mới, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ tháng 10/2020 tiếp tục khởi sắc.

Nhóm ngành nông, lâm, thủy sản:

Trong quý III/2020, giá trị gia tăng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,93%, cao hơn mức tăng 1,8% của quý II/2020. Tính chung 9 tháng năm 2020, giá trị gia tăng của khu vực này tăng 1,84%, thấp hơn tốc độ tăng cùng kỳ của các năm trước. Tốc độ tăng giá trị tăng thêm của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2017-19 lần lượt là 2,78%; 3,65% và 2,02%. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, dịch COVID-19 và dịch tả lợn châu Phi.

Trồng trọt: Tính đến ngày 15/9/2020, sản xuất nông nghiệp đều thấp hơn cùng kỳ năm 2019. Diện tích gieo cấy lúa mùa ở phía Bắc giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ.

Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò ổn định; chăn nuôi gia cầm phát triển khá. Chăn nuôi lợn đang dần được khôi phục sau dịch tả lợn châu Phi đã cơ bản được kiểm soát.

Thủy sản: Tính chung 9 tháng năm 2020, sản lượng thủy sản ước tính tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng 1,4%; sản lượng thủy sản khai thác tăng 1,9%.

Sản xuất chế biến thực phẩm: Đại dịch COVID-19 dẫn đến sự đứt gãy chuỗi cung ứng và sụt giảm cầu tiêu dùng đã ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp nói chung và ngành chế biến thực phẩm nói riêng. Chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành sản xuất chế biến thực phẩm trong 9 tháng năm 2020 tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2019, và là mức tăng thấp nhất trong các năm trở lại đây. IIP ngành sản xuất chế biến thực phẩm 9 tháng năm 2018-2020 tăng lần lượt 7,9%; 9,5% và 4,4%. Trong khi đó, chỉ số tiêu thụ tăng thấp hơn và chỉ số tồn kho tăng cao hơn cùng kỳ các năm trước. Chỉ số tiêu thụ ngành sản xuất chế biến thực phẩm trong 9 tháng năm 2018-2020 lần lượt là: 8,1%; 7,3% và 2,8%. Chỉ số tồn kho của ngành trong 9 tháng năm 2018-2020 lần lượt là: 5,0%; 13,2% và 26,8%. 

Về xuất nhập khẩu: Xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chịu ảnh hưởng bởi COVID-19. Tính đến hết tháng 9/2020, kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm thủy sản ước đạt 18,24 tỷ USD, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu của đa số các mặt hàng nông sản đều giảm so với cùng kỳ năm trước: Hàng thủy sản giảm 3,0%; rau quả giảm 11,0%; cà phê giảm 1,0%; hạt tiêu giảm 17,6%; cao su giảm 4,0%. Xuất khẩu hạt điều và chè tăng 10,6% và 3,5% về lượng, nhưng giảm 4,0% và 5,3% về kim ngạch. Riêng gạo và sắn là hai mặt hàng có tăng trưởng về giá trị xuất khẩu. Xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 12,1% về lượng và 1,7% về kim ngạch. Xuất khẩu gạo tăng 12,0% về kim ngạch.

Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng năm 2020 của mặt hàng thủy sản, hạt điều và rau quả giảm lần lượt 1,5%; 20,6% và 32,3%. Trong khi đó, nhập khẩu lúa mỳ; ngô; đậu tương; sữa và các sản phẩm từ sữa; dầu, mỡ động, thực vật; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng.

Ngành dệt may - da giày: Trong tháng 9 và 9 tháng đầu năm, các doanh nghiệp dệt may tiếp tục gặp nhiều khó khăn do cầu giảm mạnh, người tiêu dùng thế giới chủ yếu quan tâm đến đồ dùng thiết yếu và phòng chống dịch bệnh. Đơn hàng của doanh nghiệp chỉ theo từng tháng, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lên kế hoạch sản xuất. Trong tháng 8/2020, sản xuất dệt và sản xuất trang phục tăng 3,1% và 4,9% so với tháng trước, tương ứng tăng 4,9% và 4,4% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng, tăng 1,3% và giảm 4,2% so với cùng kỳ năm 2019. Trong khi đó, xuất khẩu hàng dệt và may mặc tháng 8 tiếp tục giảm 10,9%, tính chung 8 tháng, đạt 19,25 tỷ USD, giảm 11,6%; xuất khẩu vải kỹ thuật khác và xơ, sợi dệt giảm tương ứng 36,8% và 19,4% so với cùng kỳ năm 2019. Làn sóng Covid-19 thứ hai khiến cầu thị trường trong các tháng cuối năm chưa có nhiều chuyển biến, đặc biệt, niềm tin tiêu dùng tại các thị trường lớn ở Mỹ, EU và Nhật Bản chưa có nhiều tín hiệu tốt. Nhiều nhà nhập khẩu lớn đang tạm ngừng nhập khẩu, các hãng bán lẻ đẩy mạnh giảm giá kích cầu, đẩy hàng tồn kho nhằm tránh tồn đọng vốn.

Tuy nhiên, dịch chuyển đầu tư ngành dệt may vào Việt Nam từ nay đến năm 2025 được dự báo sẽ tăng nhanh, nhất là khi dịch Covid-19 được kiểm soát. Các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc đang giảm dần sản xuất ở lĩnh vực này. Trong khi Việt Nam là nước có nhiều FTA với các nước, tạo thuận lợi cho việc dịch chuyển đầu tư vào Việt Nam để được hưởng các ưu đãi. Sự dịch chuyển không chỉ đến từ các nước châu Á mà còn đến từ các nước châu Âu như Ý, Đức, Nga. Điều này giúp các doanh nghiệp Việt Nam tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong sản xuất, giảm phần làm thuần gia công.

Ngành ô tô-xe máy: Nhập khẩu ô tô nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại và linh kiện & phụ tùng ô tô tăng mạnh trong tháng 9 năm 2020. Trong tháng 9/2020 số lượng ô tô các loại nhập khẩu trong tháng 9/2020 là 12.670 chiếc, tương ứng đạt 256 triệu USD, tăng tới 43,4% (3,83 nghìn chiếc) so với lượng nhập khẩu trong tháng trước và là mức nhập khẩu cao nhất trong 9 tháng năm 2020. Tuy nhiên, cộng dồn 9 tháng từ đầu năm 2020, tổng số ô tô nhập khẩu vào Việt Nam vẫn giảm so với cùng kỳ năm ngoái với 66.465 chiếc, trị giá gần 1,5 tỷ USD, giảm gần 40%.  Xe ô tô nguyên chiếc nhập khẩu tăng đột biến có thể nhờ tác động của chính sách kích cầu bằng việc giảm thuế trước bạ đến hết tháng 12/2020 và các đại lý áp dụng các chương trình khuyến mại trong thời gian kinh doanh chậm do dịch Covid-19. Linh kiện & phụ tùng ô tô các loại được nhập về Việt Nam trong tháng 9/2020 đạt 384 triệu USD tăng 21% so với mức 317 triệu USD trong tháng 8/2020.

Điện thoại các loại và linh kiện xuất khẩu tăng: xuất khẩu mặt hàng này trong tháng 9/2020 đạt trị giá 5,21 tỷ USD, giảm 2,5% so với tháng trước. Tính trong 3 quý/2020, xuất khẩu mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt 36,79 tỷ USD, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó xuất khẩu nhóm hàng này sang EU (28 nước) đạt 7,9 tỷ USD, giảm 16,5%; xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt trị giá 7 tỷ USD, giảm nhẹ 0,1%; sang thị trường Trung Quốc đạt 6,44 tỷ USD, tăng mạnh 38,1%; sang Hàn Quốc đạt 3,79 tỷ USD, giảm 4,9%... so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu nhóm hàng linh kiện điện tử trong tháng đạt 1,87 tỷ USD, tăng 15,7% so với tháng trước. Tính trong 3 quý/2020, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này đạt 10,64 tỷ USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2019.

Máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện: trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện trong tháng đạt 4,47 tỷ USD, tăng 6,3% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 quý/2020 đạt 32,2 tỷ USD tăng 25,8% so với cùng kỳ năm 2019.Trong khi trị giá nhập khẩu trong tháng là 6,33 tỷ USD, tăng 4,9% so với tháng 8, đưa trị giá nhập khẩu nhóm này trong 3 quý năm 2020 đạt 45,08 tỷ USD, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện lớn nhất sang Việt Nam là: Hàn Quốc với 12,59 tỷ USD, giảm 5,7%; Trung Quốc với 12,08 tỷ USD, tăng 33,9%; từ Đài Loan với 5,5 tỷ USD, tăng 36,9%; từ Nhật Bản với 3,9 tỷ USD, tăng 22,3%… so với 3 quý/2019. Nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,87 tỷ USD, tăng 15,7% so với tháng trước. Tính trong 3 quý/2020, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này đạt 10,64 tỷ USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2019.

Ngành Ngân hàng: Tăng trưởng tín dụng tiếp tục yếu, chỉ đạt 5,12% trong 9 tháng đầu năm 2020 và thấp hơn nhiều so với mức 8,51% của cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, huy động vốn vẫn tăng 7,7%, cao hơn tăng trưởng tín dụng đầu ra. Số liệu cho thấy tính đến cuối tháng 9, huy động vốn toàn ngành đạt 9.812.709 tỷ đồng, tăng lần lượt 14,12% và 8,92% so với cùng kỳ và cuối năm 2019, trong đó nội tệ tăng 9,19% và ngoại tệ tăng 6,32% so với với cuối năm trước.

Từ đầu năm đến đầu tháng 10, Ngân hàng Nhà nước đã bốn lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp và người dân. Mặt bằng lãi suất huy động đã giảm tổng cộng 50-200 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn so với đầu năm nay. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng hiện phổ biến ở mức 2,5- 4%/năm, trong khi mức trần mới của Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ là 4%/năm, cho nên dư địa giảm mạnh thêm lãi suất kỳ hạn dưới 6 tháng không còn nhiều.

Tỷ giá trung tâm của đồng VNĐ so với USD tính đến tháng 10 tiếp tục ổn định so với tháng trước. Cụ thể, tính đến ngày 19/10, tỷ giá trung tâm đạt  23.196 VNĐ/1USD, giảm không đáng kể so với tháng trước (ở mức 23212 VNĐ/1 USD). Tỷ giá trung tâm không có sự chênh lệch nhiêu so với tỷ giá USD/VNĐ được niêm yết bởi ngân hàng Vietcombank (ở mức 23.270 VNĐ/USD ngày 19/10).

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế Ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202