Tin Kinh tế- xã hội

Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và 5 năm 2016-2020 theo báo cáo của Chính phủ

Cập nhật lúc: 29/10/2020 09:47:00 AM

Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và 5 năm 2016-2020; dự kiến Kế hoạch năm 2021 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2021-2025 được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIV.

Báo cáo cho thấy, dù tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 không đạt được như kỳ vọng nhưng năm 2020 vẫn là một năm thành công. Trước hết, Việt Nam là quốc gia đã thành công trong việc phòng, chống dịch COVID-19, không để dịch lây lan rộng trong cộng đồng; từ đó giảm thiểu tối đa thiệt hại về tính mạng người dân. Nếu xét theo các chỉ tiêu như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới đạt mức tăng trưởng dương trong năm 2020. Đó là những thành công rất lớn của chúng ta.

Theo số liệu thống kê 9 tháng năm 2020, những chỉ tiêu về tăng trưởng, GDP cũng tương đối cao, lạm phát ổn định, nằm trong giới hạn dưới 4%. Các chỉ tiêu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tổng vốn đầu tư xã hội vẫn tăng lên, chỉ số đầu tư tư nhân có tốc độ tăng trưởng cao. Chúng ta thấy, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, các quốc gia có quan hệ với Việt Nam đều thực hiện chính sách đóng cửa biên giới để phòng chống dịch, nhưng xuất khẩu của Việt Nam trong 9 tháng qua vẫn tương đối tốt, tăng hơn 4,2%, nhập khẩu giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2019 và đang có chiều hướng rất tích cực.

Đặc biệt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa vẫn đạt hơn 20%, mặc dù tăng trưởng khu vực FDI có giảm sút. Điều đó cho thấy, Việt Nam có thể hy vọng về lâu dài, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu này sẽ vẫn có thể giữ được và năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp nội địa sẽ ngang bằng và vượt khối lượng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI.

Về thực hiện kế hoạch 5 năm (2016-2020), nhìn nhận thẳng thắn rằng, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 không đạt kế hoạch đề ra do tác động, ảnh hưởng lớn, ngoài dự báo của đại dịch COVID-19, dẫn đến tăng trưởng bình quân 5 năm không đạt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, nếu tách riêng năm 2020, thì giai đoạn 2016-2019, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015 (theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, năm 2020 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN); GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD. Năng suất lao động được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 - 35%). Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, lao động giá rẻ, mở rộng tín dụng…, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, chúng ta tiếp tục duy trì và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực biến động mạnh.

Cũng trong giai đoạn này, kinh tế tư nhân đang có chiều hướng phát triển tốt, kể cả đầu tư tư nhân tăng trưởng rất cao; xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa cũng tăng trưởng tốt; nguồn vốn tăng trưởng cho nền kinh tế đã hợp lý hơn, bớt phụ thuộc vào nguồn vôn vay ngân hàng. Rõ ràng đây là chiều hướng thay đổi về mặt cấu trúc cơ bản của nền kinh tế, đang được Chính phủ thực thi rất quyết liệt. Cùng đó, việc ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng tỷ trọng thu nội địa đã tăng một cách nhanh chóng lên khoảng 82% so với mức thu nội địa khoảng 69% của giai đoạn 2011-2015, góp phần phát triển nguồn thu ngân sách nhà nước một cách bền vững.

Đặc biệt, tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển tăng lên 27% đến 28%; giảm được chi tiêu thường xuyên ở mức tương đối cao trong giai đoạn trước xuống còn từ 62% đến 63% trong giai đoạn này, đây là một trong những thắng lợi rất quan trọng trong chuyển biến cơ cấu chi tiêu ngân sách nhà nước.

Cùng với đó là các số liệu về kết quả giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2016-2020, việc bảo đảm nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống của người dân cũng như bảo đảm an sinh xã hội, từ đó làm cho chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam, chỉ số về xếp hạng môi trường kinh doanh được nâng lên.

Những chỉ số trên, cùng với việc Việt Nam tham gia rất nhiều hiệp định thương mại, nhất là Hiệp định Thương mại Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… là minh chứng cho các nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy sự ổn định cũng như tiềm năng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: La Hoàn
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202