Tin Kinh tế- xã hội

Một số thách thức liên quan đến cơ cấu và chất lượng dân số tại đồng bằng sông Cửu Long

Cập nhật lúc: 16/09/2020 10:00:00 AM

 Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, dân số cả nước có gần 97 triệu người, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có quy mô dân số hơn 17 triệu người, chiếm khoảng 18% dân số cả nước. Trong 10 năm qua, quá trình thay đổi về cơ cấu và chất lượng dân số tại ĐBSCL đã và đang tạo ra một số thách thức không nhỏ đối với quá trình phát triển kinh tế của vùng.

1.         Một số vấn đề đáng chú ý về dân số ĐBSCL

1.1.      Về cơ cấu dân số theo giới tính

Tỷ số giới tính được tính bằng dân số nam giới trên 100 nữ. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở (2009, 2019) cho thấy, tỷ số giới tính chung ở ĐBSCL không có sự thay đổi trong 10 năm qua khi tỷ lệ vẫn 99 nam/100 nữ so với các vùng khác trong cả nước (bảng 1).

Bảng 1: Tỷ số giới tính của các vùng kinh tế (nam/100 nữ)

                     Nguồn:Tổng cục Thống kê, kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2019)

Tuy nhiên, khi xét ở các nhóm tuổi (xem Bảng 2) cho thấy, tỷ số giới tính ở ĐBSCL có sự khác biệt theo các nhóm tuổi, tuổi càng cao tỷ số giới tính càng thấp, năm 2019 cao nhất ở nhóm tuổi 0-14 (106,8 nam/100 nữ) và thấp nhất ở nhóm tuổi từ 80 trở lên (48,4 nam/100 nữ), giảm dần theo độ tuổi; trong đó tỷ số này khá cân bằng ở nhóm tuổi 15-64, nhóm tuổi từ 80 trở lên đang có xu hướng giảm nhanh từ 63,7 nam/100 nữ năm 2009 xuống còn 48,4 nam/100 nữ năm 2019.

Bảng 2. Tỷ số giới tính dân số theo nhóm tuổi (nam/100 nữ)

                  (Nguồn:Tổng cục Thống kê, kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2019)

1.2. Về cơ cấu dân số theo độ tuổi

Dấu hiệu già hóa của nhóm dân số trong độ tuổi lao động: Cơ cấu dân số của một quốc gia được coi là trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng khi nhóm dân số trẻ em (0-14 tuổi) chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 30% và nhóm dân số người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) chiếm tỷ trọng thấp hơn 15% trong tổng dân số. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi ở ĐBSCL chiếm 22,04% và nhóm dân số từ 65 tuổi trở chiếm 8,41%. So với năm 2009, tỷ trọng dân số ở nhóm tuổi dưới 15 tuổi giảm hơn 2,98% và nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên tăng 1,8% (bảng 3). Như vậy, ĐBSCL vẫn duy trì giai đoạn dân số vàng trong suốt 10 năm qua.

Bảng 3. Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi ở ĐBSCL năm 2009 và 2019

                                                       Nguồn: Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2019.

Tuy nhiên, tỷ trọng nhóm dân số từ 30-49 tuổi giảm rất nhanh (31,8%) trong 10 năm (bảng 4). Tỷ trọng nhóm dân số từ 15-29 tuổi và 50-64 tuổi đều tăng là 14,1% và 17,7%; trong đó nhóm dân số từ 50-64 tuổi tăng nhanh hơn nhóm dân số từ 15-29 tuổi là 3,6%. Có thể nói, nhóm dân số từ 15-29 tuổi tăng nhưng không thay thế kịp thời cho già hóa của nhóm dân số trong độ tuổi từ 50-64. Điều này dẫn đến nguy cơ già hóa của nhóm dân số trong độ tuổi lao động.

Bảng 4. Tỷ trọng dân số (15-64 tuổi) theo năm (tỷ lệ %)

                        Nguồn: Tính toán dựa trên kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2019

Tỷ lệ phụ thuộc già tăng cao: Tỷ lệ phụ thuộc được xem là chỉ tiêu đánh giá gánh nặng của dân số trong độ tuổi lao động phản ánh tác động của mức sinh, mức chết đến cơ cấu tuổi và lực lượng lao động. Tỉ số dân số phụ thuộc chung đã có chiều hướng giảm từ 45,2% năm 2019 xuống còn 43,8% năm 2009. Nhưng nếu phân tích tỉ số này thành tỉ số phụ thuộc trẻ và tỉ số phụ thuộc già thì sẽ thấy hai chiều hướng biến đổi ngược nhau: Tỉ số phụ thuộc trẻ giảm từ 35% năm 2009 xuống còn 30,8% năm 2019 và tỉ số phụ thuộc già tăng từ 8,8% năm 2009 lên 14,4% năm 2019. Điều này phản ánh tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên có xu hướng tăng nhanh hơn so với các nhóm tuổi khác và tỷ lệ phụ thuộc già sẽ trở thành gánh nặng của dân số trong độ tuổi lao động, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.

Bảng 5. Tỷ số phụ thuộc ở ĐBSCL năm 2009 và 2019 (đơn vị %)

Nguồn: Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2019.

Tốc độ già hóa dân số tăng nhanh: Kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy, chỉ số già hóa dân số toàn vùng là 58,5%, tăng 24,3% so với năm 2009 (34,2%). Có nghĩa là nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên ở ĐBSCL có xu hướng tăng nhanh hơn nhóm dân số dưới 15 tuổi.        

1.3.      Về trình độ học vấn

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở 2019 về trình độ giáo dục ĐBSCL, có 18,4% dân số chưa đi học, cao hơn so với bình quân cả nước 9,8%, tỷ lệ chưa tốt nghiệp tiểu học tăng 7,9% so với năm 2009 và cao hơn mức trung bình cả nước năm 2019 là 13,2%. Xét về trình độ giáo dục cao nhất, bức tranh về tỷ trọng dân số 15 tuổi trở lên đạt trình độ giáo dục cao nhất ở ĐBSCL có sự thay đổi không tích cực và tăng nhẹ 3,3% và thấp hơn so với mức trung bình cả nước 19,2% (bảng 6).

Bảng 6. Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên theo trình độ giáo dục cao nhất (%)

                   (Nguồn:Tổng cục Thống kê, kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2019)

Xét về trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT), tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên ở ĐBSCL được đào chuyên môn chiếm 9,7% vào năm 2019, tăng 3,1% so với năm 2009; trong đó tốt nghiệp đại học chiếm 5,2% của năm 2019, tăng 2,9% so với năm 2009.

Bảng 7. Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên theo trình độ CMKT đạt được

                      (Nguồn:Tổng cục Thống kê, kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2019)

Có thể nói, trong 10 năm qua, tỷ lệ dân số được đào tạo CMKT ở ĐBSCL có thay đổi nhưng chậm hơn so với các vùng kinh tế- xã hội khác, trình độ chuyên môn của dân số ở ĐBSCL vẫn ở vị trí thấp nhất so với các khu các khu vực khác (bảng 7). Mặc dù chất lượng đội ngũ lao động của vùng có sự chuyển biến, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến cơ hội tìm kiếm việc làm cũng như thu nhập ổn định của lực lượng lao động của vùng.

2.         Một số thách thức đặt ra

Thứ nhất, mất cân bằng giới tính ở người cao tuổi (NCT) với tình trạng nữ hóa NCT gia tăng. Trong 10 năm tỷ số nam giới dưới 64 tuổi gần như cân bằng so với nữ giới, nhưng ở nhóm trên 80 tuổi, tỷ số giới tính nam giới/nữ giới theo xu hướng giảm từ 63,7nam/100 nữ vào năm 2009 xuống 48,4 nam/100 nữ năm 2019. Điều này đặt ra vấn đề cần tăng cường sức khỏe cho phụ nữ từ khi còn trẻ, cải thiện hệ thống y tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ cao tuổi cũng như vấn đề giúp phụ nữ cao tuổi có thời gian tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tăng thu nhập.

Thứ hai, lực lượng lao động có dấu hiệu già hóa. Tỷ trọng dân số từ 30-49 tuổi có xu hướng giảm 31,8% (từ 78,2 % xuống 46,4%) và tăng nhanh 17,7% ở nhóm tuổi từ 50-64 tuổi trong 10 năm qua. Điều này cho thấy, có sự già hóa trong lực lượng lao động ở ĐBSCL.

Thứ ba, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của dân số ở ĐBSCL còn khá thấp so với các vùng kinh tế - xã hội. Kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy, ĐBSCL chưa thoát khỏi “vùng trũng” về giáo dục của cả nước. Tỷ lệ dân số ở trong độ tuổi đi học trung học phổ thông nhưng không đi học chiếm 37,5%; tỷ lệ này ở độ tuổi trung học cơ sở là 12,0%. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên không qua đào tạo chiếm 90,3%. Tỷ lệ lao động giản đơn trong cả nước là 33,2% thì ở ĐBSCL là 35,9%, thấp hơn Tây Nguyên (47,6%) và Trung Du và miền núi phía Bắc (60,7%). Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, có bằng, chứng chỉ trong cả nước là 23,1% ở ĐBSCL là 13,6%, thấp nhất cả nước. Chính điều này đã ảnh hưởng và tạo áp lực rất lớn về đào tạo trình độ chuyên môn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lực lượng lao động ở ĐBSCL.

Thứ tư, nguy cơ thiếu hụt nguồn lao động trong tương lai. Trong khi tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 cả nước là 1,14%/năm thì tỷ lệ này ở ĐBSCL chỉ là 0,05%, thấp nhất cả nước và chỉ số già hóa dân số trong cả nước là 48,8% thì chỉ số này ở ĐBSCL cao nhất nước 58,5% .

Tài liệu tham khảo

1.         Tổng Cục Thống kê, Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 và 2019.

2.         Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và Viện nghiên cứu chiến lược “Tác động của thay đổi tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế và chính sách của Việt Nam đề xuất chính sách”, Báo cáo tóm tắt, 2017.

3.         Nghị quyết 21-NQ / TW "Dân số nhiệm vụ trong tình hình mới ".

4.         Một số website: baohiemxahoivietnam.vn, gso.gov.vn…

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202