Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Tình hình doanh nghiệp và kinh tế ngành của Việt Nam tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2020

Cập nhật lúc: 20/07/2020 03:00:00 PM

1. Tình hình môi trường kinh doanh và doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh: Trong 6 tháng đầu năm 2020, các Bộ, ngành, địa phương ban hành nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Về đầu tư công, các địa phương đang triển khai nhiều giải pháp để thúc đẩy giải ngân đầu tư công theo chỉ đạo của Chính phủ, trong đó, các giải pháp được nhiều địa phương áp dụng là xem xét trách nhiệm người đứng đầu và điều chuyển vốn với các dự án không đạt tiến độ. Về chính sách tín dụng, gói tín dụng 16.000 tỉ đồng với lãi suất 0%/năm cho doanh nghiệp vay để trả cho người lao động ngừng việc làm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã được triển khai theo Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg (gọi tắt là Quyết định số 15) của Thủ tướng. Tuy nhiên, đến thời điểm này, theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước, chưa doanh nghiệp nào được vay gói tín dụng 16.000 tỷ đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội do không đáp ứng các điều kiện để được vay vốn. Theo phản ánh của doanh nghiệp, điều kiện để tiếp cận khoản vay này rất khắt khe, hầu hết doanh nghiệp không đáp ứng được tiêu chí “có 20% số lao động phải ngừng việc” do trong thời gian xảy ra dịch, các DN vẫn bố trí công nhân làm việc giãn ca, luân phiên. Vừa qua, Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tiêu chí để doanh nghiệp tiếp cận được. Hiện, hai cơ quan trên đã trình Chính phủ sửa đổi quyết định số 15 theo hướng giải ngân được gói tín dụng này nhằm sớm hỗ trợ doanh nghiệp. Về chính sách tài khoá, Chính phủ đã đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu năm 2020 không quá 50 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm 2020 không quá 100 người.

Phát triển doanh nghiệp: Tính đến đầu tháng 6/2020 cả nước có 48.324 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm 2019. Số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 557.943 tỷ đồng tỷ đồng, giảm 16,7%. Vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 4 tháng đầu năm 2020 đạt 11,5 tỷ đồng, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm 2019 (trong đó 4 tháng đầu năm 2020 giảm 17,9% so với 4 tháng 2019). Điều này cho thấy doanh nghiệp đã có xu hướng thu hẹp quy mô để đảm bảo an toàn cho đồng vốn đưa vào kinh doanh. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 407.186 lao động, giảm 24,2%. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là  21.707 doanh nghiệp, tăng 10,5%. Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 26.008 doanh nghiệp, tăng 36,4 % so với cùng kỳ năm 2019 (đây là mức tăng cao nhất về số lượng đăng ký tạm ngừng kinh doanh trong 5 tháng đầu năm giai đoạn 2015-2020, thể hiện sự ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh Covid-19 đến việc tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp). Số doanh nghiệp không đăng ký/chờ giải thể là 16.584 doanh nghiệp, giảm 14,5 %. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 6.065 doanh nghiệp, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm 2019.       

2. Kinh tế ngành

Ngành nông, lâm, thủy sản: 5 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 15,5 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, nhóm nông sản chính đạt gần 7,4 tỷ USD, giảm 3,2%; chăn nuôi đạt 210 triệu USD, giảm 19,1%; thủy sản  đạt 2,8 tỷ USD, giảm 11,5%; lâm sản chính đạt 4,2 tỷ USD, giảm 1,9%. Hầu hết các mặt hàng XK đều giảm, trừ cà phê, gạo, rau, sắn quế, mây tre. Trung Quốc vẫn là thị trường chiếm thị phần lớn nhất với kim ngạch XK đạt gần 3,7 tỷ USD, giảm 15,5% so với cùng kỳ và chiếm 23,8% thị phần; tiếp đến là Hoa Kỳ ước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ và chiếm 22% thị phần; thị trường châu Âu ước đạt 1,6 tỷ USD, giảm 1,1% và chiếm 10,5% thị phần; XK sang Nhật Bản đạt gần 1,4 tỷ USD, tăng 3,5%, chiếm gần 9% thị phần; XK sang các nước ASEAN đạt gần 1,6 tỷ USD, tăng 5,5% và chiếm 10,38% thị phần. Theo Bộ NN&PTNN, tình hình thiên tai, dịch bệnh trên gia súc gia cầm vẫn diễn biến khó lường; việc tiêu thụ nông sản, nhất là xuất khẩu sẽ tốt hơn nhưng sẽ vẫn gặp nhiều khó khăn. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 6 tháng đầu năm và cả năm, mọi lĩnh vực nông nghiệp cần tập trung triển khai các giải pháp thúc đẩy sản xuất, kiểm soát dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là đối với sản xuất lúa, chăn nuôi lợn, khai thác và nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khai thác gỗ; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường.

Ngành thép: Ngành thép có sự suy giảm cả về sản lượng và xuất nhập khẩu. Tính trong 5 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ, sản lượng sắt thép thô giảm 9,7%, sản lượng thép cán giảm 4,7%, sản lượng thép thanh, thép góc tăng 12,1%.Xuất khẩu sắt thép giảm 13,5%, xuất khẩu sản phẩm từ sắt, thép giảm 5%. Nhập khẩu sắt thép giảm 15,9%, sản phẩm từ sắt thép tăng 1,7%. Thị trường thép trong quý II của năm 2020 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng từ dịch bệnh covid-19. Dự báo trong quý III tình hình xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục khó khăn, tuy nhiên sản xuất trong nước sẽ phục hồi do chính sách dập dịch hiệu quả và kích thích kinh tế của Chính phủ.

Ngành dệt may, da giày: Sản lượng dệt may, da giày sản xuất trong nước có sự tăng trưởng tốt ở tất cả các sản phẩm, kim ngạch xuất nhập khẩu đềucó xu hướng tăng. Tính trong 5 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ, Sản lượng vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 0,8%, vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo giảm 11,4%, quần áo mặc thường giảm 8,2%, giày, dép da giảm 6,7%. Xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại giảm 21,4%, dệt may giảm 14,5%, giày dép giảm 4,8%. Nhập khẩu bông giảm 9%, sợi dệt giảm 15,5%, vải giảm 14,5%, nguyên phụ liệu giảm 12,3%. Ngành dệt may và da giày tiếp tục gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh covid-19 trong quý II. Tuy nhiên, với việc đẩy mạnh xuất khẩu khẩu trang và tái khởi động chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu của ngành sẽ có xu hướng tăng trong các quý tiếp theo.

Ngành du lịch: tiếp tục chịu ảnh hưởng mạnh bởi dịch viêm phổi do chủng mới COVID-19 gây ra trong 6 tháng đầu năm 2020. Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, tổng thu từ du lịch 5 tháng đầu năm 2020 chỉ đạt 150.300 tỷ đồng, giảm tới 47,4% so với cùng kỳ 2019. Kể từ cuối tháng 4 đến nay, hoạt động du lịch nội địa đã dần được phục hồi khi các quy định giãn cách xã hội được nới lỏng; trong khi du lịch quốc tế thực sự ngừng trệ kể từ tháng 3/2020. Kết quả khảo sát của Hội đồng Tư vấn du lịch và Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân với gần 400 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực du lịch và lữ hành trong tháng 4 cho biết 77% doanh nghiệp cho biết dự kiến doanh thu trong quý II/2020 sẽ giảm hơn 80% so với quý II/2019. Theo dự báo của Tổng cục Du lịch, từ nay đến cuối năm 2020, ngành du lịch tiếp tục còn gặp khó khăn. Nếu khống chế được dịch bệnh tốt như hiện nay thì lượng khách nội địa năm 2020 có thể đạt khoảng 60-65 triệu lượt; với  khách quốc tế, trong trường hợp có thể bắt đầu đón khách được từ quý III/2020 thì lượng khách có thể đạt từ 6-8 triệu lượt; nếu đón từ quý IV/2020 thì có thể đạt được 4,5 - 5 triệu lượt khách quốc tế; thấp xa so với mục tiêu của ngành du lịch năm 2020 (phấn đấu đón khoảng 20,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 90 triệu lượt khách du lịch nội địa).

Ngành hàng không: Trong tháng 6, nhiều chuyến bay nội địa đã được nối lại do chỉ thị cách ly xã hội được dỡ bỏ từ cuối tháng 4, thiệt hại của ngành hàng không cũng được khắc phục một phần. Tuy nhiên, theo báo cáo của Uỷ ban Quản lý vốn Nhà nước, Vietnam Airlines là doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19. Quý I/2020, doanh thu hợp nhất ước đạt 19.212 tỷ đồng, giảm 26% so với cùng kỳ năm 2019; lỗ 2.383 tỷ đồng; nếu dịch kéo dài và kết thúc trong quý IV/ 2020, tổng doanh thu ước đạt 38.140 tỷ đồng, giảm 34% so với kết hoạch, lỗ 19.651 tỷ đồng. Vietnam Airlines có lượng tiền dự trữ khoảng 3.500 tỷ đồng đã cạn kiệt, dòng tiền dự kiến sẽ thiếu hụt lũy kế xấp xỉ 15.000 tỷ đồng trong năm 2020.

Ngành ngân hàng: Kể từ tháng 5, các ngân hàng giảm thêm lãi vay để kích cầu tín dụng. Bốn ngân hàng có vốn nhà nước (Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV) giảm từ 1,5-2%/năm, với hàng chục nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi. Mặc dù vậy, theo NHNN, tính đến giữa tháng 4/2020, tăng trưởng dư nợ tín dụng cả nước chỉ còn 0,8%. Tín dụng sụt giảm mạnh do nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp sụt giảm mạnh khi bị ảnh hưởng bởi giải pháp giãn cách xã hội được thực hiện ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, khiến tiêu dùng và xuất khẩu đều giảm mạnh, nguyên liệu đầu vào lẫn thị trường đầu ra đều khó khăn. Tăng trưởng tín dụng chậm, song nợ xấu nội bảng có dấu hiệu tăng. Ngân hàng Nhà nước nhìn nhận, tỷ lệ nợ xấu chắc chắn tăng trong bất kỳ trường hợp nào. Kịch bản tốt nhất là dịch bệnh sớm được kiểm soát vào đầu quý II/2020, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, đã bán cho VAMC và nợ đã phân loại sẽ ở mức 2,9-3,2% vào cuối quý II/2020 và 2,6-3% vào cuối năm 2020. Dự báo tín dụng ngành ngân hàng tăng chậm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi nhuận.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế Ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202