Tin Kinh tế- xã hội

Báo cáo tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2020

Cập nhật lúc: 16/07/2020 09:01:00 AM

Tăng trưởng kinh tế thế giớitháng 6 phục hồi so với tháng trước.Chỉ số PMI tổng hợp toàn cầu thế giới tháng 5/2020 tăng đáng kể lên mức 36,3 điểm từ mức thấp kỷ lục trong tháng trước đó(26,2 điểm). Các nền kinh tế cũng có những dấu hiệu cải thiện tích cựctiếp tục gặp nhiều khó khăn, đặc biệt Mỹ và các nước châu Âu.Giá cả hàng hóa thế giới và giá dầu hồi phục nhẹ.

1. Tình hình kinh tế thế giới

1.1. Các khu vực chủ chốt trên thế giới

Kinh tế Mỹ có dấu hiệu cải thiện nhẹ so với tháng trước khi mức sụt giảm sản lượng công nghiêp trong tháng 5/2020 thấp hơn so với tháng 4/2020. Chỉ số PMI ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Mỹ tháng 5/2020 ở mức 39,8 điểm sau khi giảm xuống mức thấp kỷ lục 36,1 vào tháng 4/2020. Tuy nhiên, chỉ số này vẫn phản ứng sự sụt giảm mạnh về sản lượng ngành công nghiệp và dịch vụ do nhu cầu suy yếu ở cả trong và ngoài nước. Chỉ số PMI ngành dịch vụ cũng cải thiện từ mức 26,7 điểm trong tháng 4 lên 37,5 điểm trong tháng 5. Triển vọng ảm đạm về sản lượng cũng khiến cho các công ty cắt giảm lao động đáng kể. Số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp của Mỹ trong thời gian từ ngày 21/3 đến 23/5 đã lên mức kỷ lục 40,767 triệu người.  Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ giảm nhẹ từ 14,7% trong tháng 4 xuống còn 13,3% trong tháng 5/2020. Sản xuất có thể phục hồi nhẹ thời gian tới do số lượng các công ty tái khởi động sản xuất trở lại đang tăng lên. Tuy nhiên, triển vọng phục hồi sẽ chậm chạp do các biện pháp giãn cách xã hội vẫn được áp dụng, lòng tin tiêu dùng và đầu tư giảm.

Kinh tế khu vực châu Âu đã cho thấy tín hiệu tích cực.Chỉ số PMI tổng hợp của khu vực Eurozone trong tháng 5/2020 phục hồi mạnh mẽ ở mức 31,5 điểm (cao hơn mức dự kiến 30,5 điểm) từ mức thấp kỷ 13,6 điểm của tháng 4/2020. Chỉ số PMI khu vực dịch vụ cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể với mức 30,5 điểm từ mức 12 điểm của tháng 4/2020. PMI của tất cả các nền kinh tế lớn của khu vực này đều tăng mạnh so với tháng trước vượt mức dự kiến, cụ thể Đức (32,3 điểm từ mức 17,4 điểm của tháng trước); Pháp (32,1; trong khi tháng 4/2020 là 11,1); Italia (33,9 điểm từ 10,9 của tháng trước); Tây Ban Nha (29,2 từ 9,2 của tháng trước). Tỷ lệ lạm phát hàng năm trong tháng 5/2020 của khu vực Eurozone tiếp tục giảm, dù ở mức nhẹ hơn so với tháng trước đó (0,1% từ mức 0,3% và 0,7% trong tháng 4 và 3/2020.Tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ trở lại sau nhiều tháng đã giảm mạnh, ở mức 7,3% trong tháng 4/2020, từ mức 7,1% trong tháng 3/2020.

Kinh tế Nhật Bản vẫn chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19.Chỉ số PMI sản xuất giảm xuống còn 38,4 điểm vào tháng 5/2020 so với 41,9 trong tháng trước đó. Cả sản lượng và đơn đặt hàng mới giảm nhiều nhất trong hơn 11 năm, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu từ nước ngoài sụt giảm với tốc độ đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu tháng 5/2020 của Nhật Bản đã giảm 28,3% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 4.180 tỷ yen (khoảng 39 tỷ USD). Đây là tháng thứ 18 liên tiếp xuất khẩu của Nhật Bản giảm và là tháng có tỷ lệ giảm mạnh nhất kể từ tháng 9/2009. Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh gồm: ô tô (giảm 64,1%, mức giảm lớn nhất kể từ sau thảm họa động đất và sóng thần tháng 3/2011 ở khu vực Đông Bắc Nhật Bản) và phụ tùng ô tô (giảm 57,6%).Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tháng 5/2020 cũng giảm 26,2% xuống còn 5.020 tỷ yen, chủ yếu do nhập khẩu năng lượng và máy bay giảm. Đây là tháng thứ 13 liên tiếp nhập khẩu giảm và tháng có tỷ lệ giảm cao nhất kể từ tháng 10/2009. Tại cuộc họp diễn ra trong hai ngày 15-16/6, BoJ đã quyết định tiếp tục tăng quy mô hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp gặp khó khăn do dịch COVID-19 từ 75.000 tỷ yen (700 tỷ USD) lên 110.000 tỷ yen (1.020 tỷ USD). Ngoài ra, BoJ giữ nguyên lãi suất ở mức âm 0,1% trong khi tiếp tục định hướng lãi suất dài hạn ở mức khoảng 0% cùng với chương trình mua tài sản quy mô lớn. BoJ cũng nâng quy mô chương trình mua vào các trái phiếu doanh nghiệp và giấy tờ có giá lên tới 20.000 tỷ yen.

Kinh tế Hàn Quốc đang suy giảm với tốc độ nhanh chóng giữa bối cảnh tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19 lan ra mọi ngành nghề của nước này.Tổng sản lượng công nghiệp của Hàn Quốc đã giảm 2,5% trong tháng 4/2020, khi dịch bệnh đã tác động xấu đến hoạt động xuất khẩu và chi tiêu tư nhân.Tháng 3/2020, tổng sản lượng công nghiệp của nước này giảm 0,3%, đánh dấu mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 2/2011. Xuất khẩu giảm 23,7% trong tháng 5/2020. Cán cân tài khoản vãng lai (ước tính) của trong tháng 4/2020 thâm hụt 3,12 tỷ USD, tăng 2,73 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái và là mức lớn nhất kể từ tháng 1/2011.

Kinh tế Trung Quốc có dấu hiệu khả quan hơn song vẫn đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình phục hồi tăng trưởng sau đại dịch. Trong 5 tháng đầu năm 2020, sản lượng công nghiệp của Trung Quốc giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2019. Riêng tháng 5/2020, sản lượng công nghiệp tăng 4,4%, tăng 0,5 điểm% so với tháng 4/2020 - lần tăng đầu tiên trong năm nay[1]. Tính đến ngày 27/5 có 67,4% số doanh nghiệp đã phục hồi hoạt động trên 80% năng suất so với trước, tăng 6,6 điểm% so với tháng 4[2].  Doanh số bán lẻ vẫn tiếp tục giảm, tháng 5/2020 giảm 2,8% nhưng khả quan hơn nhiều so với mức giảm 7,5% của tháng 4. Chỉ số PMI lĩnh vực chế tạo đạt mức 50,6 điểm. Đầu tư tài sản cố định 5 tháng đầu năm 2020 giảm 6,3% so với cùng kỳ năm 2019. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốcsụt giảm trong tháng 5/2020, xuất khẩu giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2019 (tháng 4 tăng 3,5% ), nhập khẩu giảm 16,7% so với cùng kỳ năm 2019 ( tháng 4 giảm 14,2% ). Lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp ở Trung Quốc đã giảm gần 30% trong quý I/2020[3].Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) ngày 25/5 đã hạ tỷ giá tham chiếu chính thức của đồng nhân dân tệ (NDT) ở mức 7,1209 NDT đổi 1 USD, thấp hơn so với mức 7,0939 NDT/ USD trước đó. Đây là mức thấp nhất kể từ ngày 28/2/2008.

1.2. Một số lĩnh vực chủ yếu của thế giới

Đầu tư thế giới tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid 19.Theo Báo cáo đầu tư thế giới (World Investment Report 2020) của UNCTAD (6/2020), dòng vốn toàn cầu dự báo sẽ giảm 40% trong năm 2020 so với mức 1,54 nghìn tỷ USD năm 2019. Đây là lần đầu tiên dòng vốn FDI toàn cầu giảm về mức dưới 1 nghìn tỷ USD kể từ năm 2005.Dòng vốn FDI dự báo sẽ giảm thêm 5-10% vào năm 2021, trước khi bắt đầu phục hồi vào năm 2022. Các nền kinh tế đang phát triển dự báo sẽ có mức sụt giảm vốn đầu tư nước ngoài lớn hơn do phụ thuộc nhiều hơn vào đầu tư vào các ngành công nghiệp khai thác và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu vốn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19, bên cạnh đó các nước đang phát triển bị giới hạn về khả năng áp dụng các biện pháp hỗ trợ kinh tế giống như các nền kinh tế phát triển. Vốn đầu tư vào các nước phát triển dự kiến ​​sẽ giảm từ 25% đến 45%, do cuộc khủng hoảng Covid-19 làm chậm chi tiêu vốn của doanh nghiệp đa quốc gia (MNE). Thu hẹp lợi nhuận doanh nghiệp sẽ có tác động trực tiếp đến thu nhập tái đầu tư, trung bình chiếm hơn 50% vốn FDI. Trong dài hạn, hệ thống sản xuất quốc tế dự kiến ​​sẽ trải qua một sự chuyển đổi, do cuộc khủng hoảng Covid-19 cùng với sự thay đổi chính sách hiện tại theo hướng chủ nghĩa dân túy, xu hướng phát triển bền vững và xu hướng công nghiệp mới. Có bốn kịch bản khả thi cho quá trình tái cơ cấu sản xuất quốc tế trong thập kỷ tới liên quan đến tái cơ cấu chuỗi giá trị toàn cầu gồm: đưa sản xuất về nước, đa dạng hóa, khu vực hóa và sao chép các chuỗi cung ứng.

Giá cả hàng hóa thế giớiphục hồi nhẹ.Chỉ số giá cơ bản (CRB)[4]từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 5 tăng lên 2%. Giá ngũ cốc hiện vẫn đồng loạt đi xuống. Giá lúa mì (phiên ngày 13/5) kỳ hạn tháng 7/2020 giảm còn 5,01-3/4 USD/bushel, thấp nhất kể từ 18/3/2020 do dự báo nguồn cung tăng lên trên toàn cầu và cạnh tranh thị trường xuất khẩu. Giá đậu tương giao cùng kỳ hạn cũng giảm còn 8,39-1/2 USD/bushel;Giá ngô và đậu tương giảm do tiến độ trồng trọt của Mỹ hứa hẹn sản lượng sẽ bội thu. Giá kim loại công nghiệp: Giá đồng giảm trong phiên ngày 15/6/2020 do lo ngại về làn sóng nhiễm virus Covid 19 thứ hai và không chắc chắn liệu nhu cầu sẽ phục hồi nhanh chóng hay kéo dài hơn. Giá đồng kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn giao dịch kim loại London giảm 1,3% lên 5.709 USD/tấn; nhôm giao cùng kỳ hạn giảm 0,6% xuống 1.576 USD/tấn, kẽm tăng 0,6% lên 1.988 USD/tấn, chì giảm 0,7% xuống 1.745 USD/tấn, thiếc giảm 1,7% xuống 16.825 USD/tấn và nickel giảm 0,5% xuống 12.730 USD/tấn.

Trước phiên ngày 15/6/2020, giá đồng đã tăng mấy phiên liên tiếp. Các gói kích thích của ngân hàng trung ương đã kích hoạt việc mua vào trong tuần trước, khiến giá đồng tăng lên 5.928 USD/tấn, tăng 35% kể từ giữa tháng 3/2020 và cao nhất kể từ cuối tháng 1/2020. Hoạt động sản xuất tại Trung Quốc là một chỉ số lớn của nhu cầu kim loại công nghiệp, do quốc gia này chiếm một nửa tiêu thụ toàn cầu. Các nhà máy của Trung Quốc tăng cường sản xuất tháng thứ 2 liên tiếp trong tháng 5/2020, mặc dù mức tăng yếu hơn dự kiến cho thấy sự phục hồi vẫn mong manh.

Giá vàng:Giá vàng giảm hơn 1% trong bối cảnh đồng USD duy trì gần mức cao nhất trong 1 tuần qua: cụ thể, cuối phiên giao dịch ngày 16/6/2020, vàng giao ngay giảm 0,2% xuống còn 1.726,61 USD/ounce; vàng giao tháng 8/2020 giảm 0,6% xuống 1.727,20 USD/ounce. Theo Giám đốc của High Ridge Futures, kể từ sau cuộc họp chính sách lãi suất diễn ra trong hai ngày 9-10/6 vừa qua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) (khi cơ quan này không cắt giảm thêm lãi suất hay mua thêm tài sản), thị trường vàng đã không nhận thêm được thông tin tác động tích cực nào. Trong khi đó, theo nhà phân tích Ole Hansen của Saxo Bank, lạm phát đang giảm mạnh trong bối cảnh nhu cầu của người tiêu dùng sụt giảm và các nước chậm mở cửa trở lại nền kinh tế đã tác động tiêu cực tới nhu cầu đối với vàng.

Thị trường nông sản: Giá đậu tương giảm do triển vọng sản lượng của Mỹ sẽ bội thu, mặc dù tình hình xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn thuận lợi, giá đậu tương trên sàn Chicago phiên ngày 16/6/2020 giảm 2-1/4 US cent xuống 8,69 USD/bushel; trái lại, lúa mì tăng 2-3/4 US cent đóng cửa tại 5,04-3/4 USD/bushel. Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 9 giảm 1,1 US cent hay 1,1% xuống 95,9 US cent/lb, trong phiên có thời điểm giá giảm xuống mức thấp nhất 9 tháng (95,05 US cent); cà phê robusta giao cùng kỳ hạn giảm 18 USD hay 1,5% xuống 1.194 USD/tấn.

Giá dầu thô thế giới đang phục hồi. Giá dầu thô WTI đã đạt đỉnh 40,39 USD/ thùng vào ngày 8/6/2020 từ mức 30,48 USD/thùng ngày 18/5/2020 và dao động trong khoảng 38 USD/thùng ngày 17/6/2020. Giá dầu brent cũng đạt đỉnh 41 USD/thùng ngày 08/06/2020 và  dao động quanh mức 40 USD/thùng ngày 16/6/2020 (Hợp đồng giao tháng 8/2020). Nguyên nhân giá dầu tăng cao ngày 8/6 là do OPCE+ đã tiếp tục duy trì việc cắt giảm sản lượng ước tình khoảng 10% nguồn cung toàn cầu đến hết tháng 7/2020 và số liệu việc làm của Mỹ tăng khả quan. Theo báo cáo của IEA (16/6/2020), nhu cầu dầu trong quý 2/2020 - bị tác động mạnh mẽ vì hàng loạt quốc gia áp dụng biện pháp phong tỏa, thấp hơn 17,8 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái. Nhu cầu dầu thô thế giới sẽ sụt 8,1 triệu thùng/ngày trong năm 2020. Tuy nhiên, sang năm 2021, nhu cầu sẽ tăng trở lại 5,7 triệu thùng/ngày.

Hội nhập kinh tế quốc tế vẫn diễn ra tích cực. Hậu Brexit, Anh xúc tiến đàm phán thỏa thuận thương mại với nhiều đối tác châu Á. Ngày 9/6/2020, Nhật Bản và Anh đã chính thức bắt đầu các cuộc đàm phán về thỏa thuận thương mại tự do (FTA) song phương, nhằm đạt được một thỏa thuận vào cuối năm nay.Anh cũng đang trong quá trình nỗ lực đối thoại với chính phủ một số nước khu vực Đông Nam Á. Tại châu Á, Hàn Quốc (15/6/2020) xúc tiến ký kết FTA với Campuchia trong tháng 7/2020.

Thị trường tài chính tiền tệ thế giới có nhiều biến động đang chú ý với bối cảnh chung là phần lớn các quốc gia đang dần làm quen với việc duy trì nền kinh tế trong song song với việc kìm hãm đại dịch covid 19. Ở Mỹ,Fed (sau động thái cắt giảm lãi suất) cho biết sẽ mua trái phiếu doanh nghiệp cá nhân, động thái này đánh dấu một cách tiếp cận với quy mô rộng hơn trong việc mua trái phiếu doanh nghiệp. Fed trước đây đã chỉ ra rằng sẽ mua trái phiếu trên thị trường sơ cấp, nhưng thông báo này đã đánh dấu sự tiếp cận rộng hơn vào thị trường thứ cấp. Thông báo mới nhất này cũng cho thấy Fed sẽ tiếp tục hỗ trợ thị trường tín dụng trong thời gian đại dịch gây ảnh hưởng đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, Tổng Thống Donald Trump đang dự định sẽ đầu từ 1 nghìn tỷ USD vào các dự án hạ tầng nhằm  thúc đẩy nên kinh tế sau khi mở cửa trở lại.

Chỉ số USD index tháng 06/2020  giảm xuống mức 96,5 điểm phần trăm điểm phần trăm. Đây là mức thấp nhất kể từ tháng 03/2020 (thời điểm trước khi Mỹ bắt đầu bùng phát đại dịch covid 19). Ở châu Âu,  Đồng Euro duy trì sự ổn định với mức 1,2 USD đổi 1 EUR. Ở Nhật Bản, Tỷ giá USD/JPY không chứng kiến nhiều sự thay đổi khi đạt 107 JPY đổi 1USD. Tỷ giá USD/CNY đạt 7,09 giảm nhẹ so với tháng 05.

2. Dự báo kinh tế thế giới 2020

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu thời gian tới được dự báo không khả quan trong bối cảnh ảnh hưởng của đại dịch Covid 19vẫn đang căng thẳng ở nhiều khu vực trên thế  giới.Trên cơ  sở cập nhật dữ liệu của kinh tế thế giới đến tháng 5/2020,NCIF dự báo kinh tế thế giới năm 2020 sẽ suy giảm ở mức -1,74%. Tăng trưởng kinh tế một số nền kinh tế chủ chốt, trừ Trung Quốc, cũngbị suy giảm mạnh mẽdo ảnh hưởng từ đại dịch, đặc biệt là Mỹ, các nước khu vực châu Âu, Nhật Bản, Singapore với mức tăng trưởng âm, lần lượt là -2,9%; -3,24%; -4,32%; -5,82%. Mức tăng trưởng của Trung Quốc giảm so  với năm trước song đạt mức dương, 2,13% trong năm 2020.

 

3. Doanh nghiệp và kinh tế ngành của Việt Nam

3.1. Môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh:Trong 5 tháng đầu năm 2020,  khoảng 86%  doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19[1]; doanh thu dự kiến 4 tháng đầu năm 2020 giảm 70% so cùng kỳ năm 2019; hơn 45% số doanh nghiệp hiện đang thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh. Các Bộ, ngành, địa phương đã đề xuất các giải pháp khác nhau nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tái khởi động nền kinh tế ứng phó với dịch Covid-19. Bộ Tài chính đề xuất tăng hạn mức tín dụng cho ngành chứng khoán; cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nếu đủ điều kiện được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, điều chỉnh một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Nội dung chính gồm: áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 15% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, thuế suất 17% đối với doanh nghiệp nhỏ, miễn sắc thuế này 2 năm liên tục kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ được thành lập mới từ hộ kinh doanh.

Số doanh nghiệp thành lập mới giảm 13,2% so với cùng kỳ năm 2019 - lần đầu tiên số lượng doanh nghiệp thành lập mới sụt giảm trong 4 tháng đầu năm giai đoạn 2015-2020. Số vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới giảm 17,9% so với cùng kỳ năm 2019, cho thấy doanh nghiệp đã có xu hướng thu hẹp quy mô để đảm bảo an toàn cho đồng vốn. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 315.731 lao động, giảm 29,7% so với cùng kỳ năm 2019. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2019. Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn tăng 33,6% so với cùng kỳ năm 2019 - mức tăng cao nhất trong 4 tháng đầu giai đoạn 2015-2020, thể hiện sự ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh Covid-19 đến việc tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp. Số doanh nghiệp không đăng ký/chờ giải thể là 13.956 doanh nghiệp, giảm 19,2% và số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 5.103 doanh nghiệp, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2019.

Môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp

Các số liệu về tình hình đăng ký doanh nghiệp những tháng đầu năm 2020 cho thấy những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp. Thể hiện ở sự giảm sút về số doanh nghiệp thành lập mới, số vốn bổ sung hoặc cam kết đưa vào kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, số lao động đăng ký và sự gia tăng mạnh mẽ của số doanh nghiệp ngừng hoạt động trong ngắn hạn. Tuy nhiên, so sánh số liệu 5 tháng với giai đoạn 4 tháng đầu năm và Quý I năm 2020, có thể nhận thấy những sự giảm sút này đang có xu hướng đổi chiều. Trong thời gian sắp tới, nếu kịch bản kiểm soát dịch trong nước và quốc tế diễn biến theo chiều hướng tích cực thì dự kiến đây sẽ là bước đà thuận lợi cho việc phục hồi của cộng đồng doanh nghiệp. Cụ thể, tính đến đầu tháng 6 năm 2020 cả nước có 48.324 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm 2019. Tỷ lệ này thấp hơn so với tỷ lệ giảm của kỳ 4 tháng đầu năm 2020 khi so sánh với kỳ 4 tháng đầu năm 2019 (giảm 13,2%). Số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 557.943 tỷ đồng tỷ đồng giảm giảm 16,7%. Vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 4 tháng đầu năm 2020 đạt 11,5 tỷ đồng, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm 2019 (trong đó 4 tháng đầu năm 2020 giảm 17,9% so với 4 tháng 2019). Điều này cho thấy doanh nghiệp đã có xu hướng thu hẹp quy mô để đảm bảo an toàn cho đồng vốn đưa vào kinh doanh. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 407.186 lao động, giảm 24,2%. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là21.707 doanh nghiệp, tăng 10,5%. Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 26.008 doanh nghiệp, tăng 36,4 % so với cùng kỳ năm 2019 (đây là mức tăng cao nhất về số lượng đăng ký tạm ngừng kinh doanh trong 5 tháng đầu năm giai đoạn 2015-2020, thể hiện sự ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh Covid-19 đến việc tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp). Số doanh nghiệp không đăng ký/chờ giải thể là 16.584 doanh nghiệp, giảm 14,5 %. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 6.065 doanh nghiệp, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm 2019.       

3.2. Kinh tế ngành

Nông, lâm, thủy sản

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tính chung 5 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu (XK) nông, lâm, thủy sản đạt 15,5 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, nhóm nông sản chính đạt gần 7,4 tỷ USD, giảm 3,2%; chăn nuôi đạt 210 triệu USD, giảm 19,1%; thủy sản  đạt 2,8 tỷ USD, giảm 11,5%; lâm sản chính đạt 4,2 tỷ USD, giảm 1,9%. Hầu hết các mặt hàng XK đều giảm, trừ cà phê, gạo, rau, sắn quế, mây tre..

Trung Quốc vẫn là thị trường chiếm thị phần lớn nhất với kim ngạch XK đạt gần 3,7 tỷ USD, giảm 15,5% so với cùng kỳ và chiếm 23,8% thị phần; tiếp đến là Hoa Kỳ ước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ và chiếm 22% thị phần; thị trường châu Âu ước đạt 1,6 tỷ USD, giảm 1,1% và chiếm 10,5% thị phần; XK sang Nhật Bản đạt gần 1,4 tỷ USD, tăng 3,5%, chiếm gần 9% thị phần; XK sang các nước ASEAN đạt gần 1,6 tỷ USD, tăng 5,5% và chiếm 10,38% thị phần.

Theo Bộ NN&PTNN, tình hình thiên tai, dịch bệnh trên gia súc gia cầm vẫn diễn biến khó lường; việc tiêu thụ nông sản, nhất là XK sẽ tốt hơn nhưng sẽ vẫn gặp nhiều khó khăn. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 6 tháng đầu năm và cả năm, mọi lĩnh vực nông nghiệp cần tập trung triển khai các giải pháp thúc đẩy sản xuất, kiểm soát dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là đối với sản xuất lúa, chăn nuôi lợn, khai thác và nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khai thác gỗ; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường.

Ngành thép: Ngành thép có sự suy giảm cả về sản lượng và xuất nhập khẩu. Tính trong 5 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ, sản lượng sắt thép thô giảm 9,7%, sản lượng thép cán giảm 4,7%, sản lượng thép thanh, thép góc tăng 12,1%.Xuất khẩu sắt thép giảm 13,5%, xuất khẩu sản phẩm từ sắt, thép giảm 5%. Nhập khẩu sắt thép giảm 15,9%, sản phẩm từ sắt thép tăng 1,7%. Thị trường thép trong quý II của năm 2020 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng từ dịch bệnh covid-19. Dự báo trong quý III tình hình xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục khó khăn, tuy nhiên sản xuất trong nước sẽ phục hồi do chính sách dập dịch hiệu quả và kích thích kinh tế của Chính phủ.

Ngành dệt may, da giày:Sản lượng dệt may, da giày sản xuất trong nước có sự tăng trưởng tốt ở tất cả các sản phẩm, kim ngạch xuất nhập khẩu đềucó xu hướng tăng. Tính trong 5 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ, Sản lượng vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 0,8%, vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo giảm 11,4%, quần áo mặc thường giảm 8,2%, giày, dép da giảm 6,7%. Xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại giảm 21,4%, dệt may giảm 14,5%, giày dép giảm 4,8%. Nhập khẩu bông giảm 9%, sợi dệt giảm 15,5%, vải giảm 14,5%, nguyên phụ liệu giảm 12,3%. Ngành dệt may và da giày tiếp tục gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh covid-19 trong quý II. Tuy nhiên, với việc đẩy mạnh xuất khẩu khẩu trang và tái khởi động chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu của ngành sẽ có xu hướng tăng trong các quý tiếp theo.

Ngành du lịch chịu ảnh hưởng mạnh bởi dịch viêm phổi do chủng mới COVID-19 gây ra trong 6 tháng đầu năm 2020. Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, tổng thu từ du lịch 5 tháng đầu năm 2020 chỉ đạt 150.300 tỷ đồng, giảm tới 47,4% so với cùng kỳ 2019. Kể từ cuối tháng 4 đến nay, hoạt động du lịch nội địa đã dần được phục hồi khi các quy định giãn cách xã hội được nới lỏng; trong khi du lịch quốc tế thực sự ngừng trệ kể từ tháng 3/2020. Kết quả khảo sát của Hội đồng Tư vấn du lịch và Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân với gần 400 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực du lịch và lữ hành trong tháng 4 cho biết 77% doanh nghiệp cho biết dự kiến doanh thu trong quý II/2020 sẽ giảm hơn 80% so với quý II/2019.

Để khắc phục những thiệt hại do dịch COVID-19 gây ra đối với ngành du lịch, Việt Nam đã phát động Chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” nhằm đẩy mạnh kích cầu du lịch nội địa và đã có một số kết quả tích cực, tuy nhiên kết quả không đồng đều ở các địa phương.

Ngành hàng không: Trong tháng 6, nhiều chuyến bay nội địa đã được nối lại do chỉ thị cách ly xã hội được dỡ bỏ từ cuối tháng 4, thiệt hại của ngành hàng không cũng được khắc phục một phần. Tuy nhiên, theo báo cáo của Uỷ ban Quản lý vốn Nhà nước, Vietnam Airlines là doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19. Quý I/2020, doanh thu hợp nhất ước đạt 19.212 tỷ đồng, giảm 26% so với cùng kỳ năm 2019; lỗ 2.383 tỷ đồng; nếu dịch kéo dài và kết thúc trong quý IV/ 2020, tổng doanh thu ước đạt 38.140 tỷ đồng, giảm 34% so với kết hoạch, lỗ 19.651 tỷ đồng. Vietnam Airlines có lượng tiền dự trữ khoảng 3.500 tỷ đồng đã cạn kiệt, dòng tiền dự kiến sẽ thiếu hụt lũy kế xấp xỉ 15.000 tỷ đồng trong năm 2020.

Ngành ngân hàng: Kể từ tháng 5, các ngân hàng giảm thêm lãi vay để kích cầu tín dụng. Bốn ngân hàng có vốn nhà nước (Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV) giảm từ 1,5-2%/năm, với hàng chục nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi. Mặc dù vậy, theo NHNN, tính đến giữa tháng 4/2020, tăng trưởng dư nợ tín dụng cả nước chỉ còn 0,8%. Tín dụng sụt giảm mạnh do nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp sụt giảm mạnh khi bị ảnh hưởng bởi giải pháp giãn cách xã hội được thực hiện ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, khiến tiêu dùng và xuất khẩu đều giảm mạnh, nguyên liệu đầu vào lẫn thị trường đầu ra đều khó khăn.

Dự báo:

Ngành du lịch: Theo dự báo của Tổng cục Du lịch, từ nay đến cuối năm 2020, ngành du lịch tiếp tục còn gặp khó khăn. Nếu khống chế được dịch bệnh tốt như hiện nay thì lượng khách nội địa năm 2020 có thể đạt khoảng 60-65 triệu lượt; với  khách quốc tế, trong trường hợp có thể bắt đầu đón khách được từ quý III/2020 thì lượng khách có thể đạt từ 6-8 triệu lượt; nếu đón từ quý IV/2020 thì có thể đạt được 4,5 - 5 triệu lượt khách quốc tế; thấp xa so với mục tiêu của ngành du lịch năm 2020 (phấn đấu đón khoảng 20,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 90 triệu lượt khách du lịch nội địa).

Ngành ngân hàng:Tăng trưởng tín dụng chậm, song nợ xấu nội bảng có dấu hiệu tăng. Ngân hàng Nhà nước nhìn nhận, tỷ lệ nợ xấu chắc chắn tăng trong bất kỳ trường hợp nào. Kịch bản tốt nhất là dịch bệnh sớm được kiểm soát vào đầu quý II/2020, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, đã bán cho VAMC và nợ đã phân loại sẽ ở mức 2,9-3,2% vào cuối quý II/2020 và 2,6-3% vào cuối năm 2020. Dự báo tín dụng ngành ngân hàng tăng chậm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi nhuận[2].


[1] Báo cáo Khảo sát 130.000 doanh nghiệp của Bộ KH-ĐT tháng 4/2020

[2] Theo Công ty chứcn khoán VNDIRECT, ở kịch bản cơ sở, dịch Covid-19 sẽ dần được kiểm soát trong quý II/2020, do đó tăng trưởng tín dụng có thể sẽ tăng trở lại trong quý III&IV/2020, dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2020 sẽ đạt 11%. 


[1] Mức tăng này thấp hơn so với dự báo tăng 5% nhưng là sự cải thiện lớn so với mức giảm 13,5% trong hai tháng đầu năm.

[2] Trong đó sản lượng của các nhà máy chế tạo tăng mạnh nhất.

[3]Xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm 2020 đã giảm 1,17% so với cùng kỳ năm 2019, xuống còn 96,16 tỷ USD

[4] Chỉ số hàng hóa dùng để theo dõi sự biến động giá của 22 loại hàng hóa cơ bản và nhạy cảm được chọn trên thị trường giao ngay (spot market)

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202