Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Bằng chứng định lượng về yếu tố tạo ra khoảng cách tiền lương theo giới ở Việt Nam

Cập nhật lúc: 03/06/2020 03:00:00 PM

Khoảng cách thu nhập theo giới của Việt Nam có xu hướng giãn rộng. Năm 2018, tiền lương bình quân tháng của lao động làm công ăn lương nam là 6,183 triệu đồng/tháng, của lao động làm công ăn lương nữ là5,446 triệu đồng/tháng. Tiền lương bình quân tháng của lao động nam cao hơn nữ là hơn 0,737 triệu đồng, gấp đôi mức chênh lệch tiền lương năm 2010 (0,371 triệu đồng). Hình 1 cho thấy chênh lệch tiền lương theo giới ngày càng tăng lên.

Hình 1. Tiền lương bình quân tháng của lao động làm công ăn lương từ 15 tuổi trở lên theo giới (triệu đồng)

Nguồn: Báo cáo Điều tra Lao động – Việc làm các năm của Tổng cục Thống kê

Chênh lệch thu nhập giữa lao động làm công ăn lương nam và nữ có liên quan tới số giờ làm việc bình quân của mỗi giới. Năm 2018, lao động nam làm việc trung bình 46,4 giờ/tuần, cao hơn số giờ làm việc trung bình tuần của lao động nữ là 2,4h/tuần (Hình 2). Mức chênh lệch thời gian làm việc theo giới năm 2018 thấp hơn con số năm 2016 và 2017, nhưng cao hơn mức chênh lệch của năm 2010. Năm 2010, bình quân mỗi tuần lao động làm công ăn lương nam làm việc nhiều hơn lao động nữ khoảng 1,7 giờ.

 

Hình 2. Số giờ làm việc bình quân tuần của của lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên

Nguồn: Báo cáo Điều tra Lao động – Việc làm các năm của Tổng cục Thống kê

Về lý thuyết, chênh lệch thu nhập nam – nữ có thể do: (i) phụ nữ có xu hướng làm các công việc không được trả lương hoặc các công việc thu nhập thấp; (ii)  trách nhiệm gia đình và chuẩn mực xã hội khiến phụ nữ phải làm các công việc chăm sóc gia đình nên có xu hướng tìm kiếm các công việc có tính linh hoạt nhưng thu nhập thấp như kể trên.

Theo một nghiên cứu của Chowdhury và cộng sự (2019), sử dụng số liệu Điều tra Lao động – Việc làm năm 2011-14, các tác giả chỉ ra rằng khoảng cách lương vẫn tồn tại bất chấp thực tế nữ giới đã đạt được các trình độ  giáo dục tương đương nam giới (thậm chí tỷ lệ nữ tham gia các bậc học cao hơn nam) và khoảng cách đó liên quan khá nhiều tới sự khác biệt trong lựa chọn nghề nghiệp giữa hai giới.

Nhóm nghiên cứu kiểm định giả thuyết (1) Việc lựa chọn nghề nghiệp xảy ra khi phụ nữ tham gia thị trường lao động. Phụ nữ có xu hướng ưa thích các đặc tính phi tiền tệ của nghề nghiệp (như tính an toàn cao, được hưởng chế độ bảo hiểm…) và rất chú trọng tới các đặc điểm này khi lựa chọn nghề nghiệp. Để làm sâu hơn nguyên do và thời điểm hình thành của giả thuyết (1), giả thuyết (2) và (3) được kiểm định: (2) Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của phụ nữ được định hình trước khi tham gia thị trường lao động. Chuẩn mực xã hội về vai trò của từng giới mà trẻ em được học tác động tới định hướng nghề nghiệp của nam và nữ. Định hướng nghề nghiệp lại ảnh hưởng tới lựa chọn bậc giáo dục và chuyên ngành và định trước lựa chọn nghề nghiệp của nữ; (3) Lựa chọn nghề nghiệp xuất hiện trong quá trình chuyển đổi từ nhà trường tới thị trường lao động do những cản trở đặc trưng theo giới trong tìm việc làm trong một chuyên ngành.

Kết quả nghiên cứu xác nhận giả thuyết thứ nhất, rằng phụ nữ ưa thích các đặc điểm phi tiền tệ của nghề nghiệp (như có hợp đồng lao động, có bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, chi trả khi ốm đau và số giờ làm việc ít hơn) và có xu hướng lựa chọn các nghề có những đặc tính này. Mặc dù phụ nữ hướng đến các ngành, nghề với lợi ích phi tiền tệ cao hơn, họ phải đối mặt với những bất lợi trong những công việc đó. Các tác giả không tìm thấy bằng chứng xác nhận giả thuyết thứ hai và ba cho Việt Nam.

Tuy nhiên, các điều tra khác cho thấy chuẩn mực xã hội và trách nhiệm gia đình khiến phụ nữ phải dành nhiều thời gian chăm sóc gia đình hơn nam giới. Để cân bằng giữa công việc và gia đình, phụ nữ có xu hướng tìm kiếm các công việc có các đặc điểm phi tiền tệ và chấp nhận mức thu nhập thấp hơn nam giới. Nghiên cứu của ActionAid thực hiện trong giai đoạn tháng 1-4/2016 ở 9 tỉnh, thành phố cho thấy tỷ lệ phụ nữ tham gia các công việc không được trả lương, công việc chăm sóc không lương cao hơn nam giới. Phụ nữ dành trung bình hơn 5h mỗi ngày cho công việc chăm sóc không lương, so với hơn 3 giờ của nam giới.

Như vậy, chênh lệch tiền lương theo giới ở Việt Nam có thể được giải thích do phụ nữ ưa thích các nghề nghiệp có các đặc điểm phi tiền tệ hơn là chú ý đến khía cạnh tiền tệ của tiền lương. Quyết định nghề nghiệp của phụ nữ phần nào chịu tác động bởi chuẩn mực xã hội./.

Tài liệu tham khảo

1. ActionAid. 2016. “Make a House Become a Home.” Policy brief. ActionAid Vietnam.

2. Chowdhury, Iffat, Hillary C. Johnson, Aneesh Mannava, and Elizaveta Perova. 2019. “Gender Gap in Earnings in Vietnam: Why Do Vietnamese Women Work in Lower Paid Occupations?” Journal of Southeast Asian Economies 36 (3): 400–423.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202