Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với doanh nghiệp

Cập nhật lúc: 15/05/2020 03:00:00 PM

Định nghĩa về đổi mới sáng tạo

Có rất nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm về đổi mới sáng tạo (ĐMST). Schumpeter (1949) định nghĩa đổi mới như là hướng mới trong việc khai thác các nguồn lực hiện tại của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm mới, phương pháp sản xuất mới, nguồn cung hoặc nguồn lực mới về nguyên liệu thô, khai thác thị trường mới và phương pháp mới trong marketing. Evan (1966) định nghĩa đổi mới là một quá trình phát triển các ý tưởng mới. Freeman và Soete (1997) chỉ ra rằng một sự ĐMST là một sản phẩm hoặc một quy trình sản xuất mới được cải thiện và sử dụng cho mục đích thương mại lần đầu tiên. Nghiên cứu của Distanont và Khongmalai (2018) định nghĩa ĐMST là những thứ mới, khác so với những thứ đã và đang tồn tại, được phát triển dựa trên tri thức hiện tại và đáp ứng nhu cầu của thị trường. Cũng theo nghiên cứu này, các loại hình ĐMST bao gồm 3 nhóm lớn: (i) theo mục tiêu của ĐMST (đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình sản xuất); (ii) theo mức độ thay đổi (đổi mới căn bản và đổi mới gia tăng (radical innovation and incremental innovation)); (iii) theo khu vực tác động (đổi mới công nghệ và đổi mới hành chính).

Các tổ chức quốc tế cũng có những định nghĩa khá tương đồng về ĐMST. Theo EC (1995), ĐMST là “sản xuất thành công, đồng hóa và khai thác tính mới trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội”. ĐMST là sự đổi mới và mở rộng phạm vi của các sản phẩm và dịch vụ thị trường liên quan; thiết lập các phương thức sản xuất, cung ứng và phân phối mới và giới thiệu các thay đổi trong quản lý, tổ chức công việc; các điều kiện và kỹ năng làm việc của lực lượng lao động. Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD (2005), ĐMST là “thực hiện một sản phẩm mới hay một sự cải tiến đáng kể (đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể), một quy trình, phương pháp marketing mới, hay một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, tổ chức nơi làm việc, hay các mối quan hệ đối ngoại”.

Tại Việt Nam, khái niệm ĐMST được định nghĩa trong Luật Khoa học và công nghệ (số 04/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018): “ĐMST là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa”.

Nhìn chung, các khái niệm đều cho thấy, ĐMST liên quan đến sự thay đổi và tính mới. Tính mới này có thể là mới đối với công ty (sự đổi mới có thể đã được thực hiện bởi các công ty khác nhưng nó là mới đối với công ty), mới đối với thị trường (khi doanh nghiệp là người đầu tiên giới thiệu sự đổi mới trên thị trường của mình) và mới đối với thế giới (khi doanh nghiệp là người đầu tiên giới thiệu sự đổi mới cho tất cả tất cả các thị trường và các ngành công nghiệp) (OECD, 2010). Bên cạnh đó, ĐMST có thể mang cả khía cạnh công nghệ và phi công nghệ (mô hình kinh doanh, marketing,…).

Vai trò của ĐMST đối với doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp, thực hiện ĐMST là tất yếu, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Công nghệ thay đổi ngày càng nhanh, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng, nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng và thường xuyên thay đổi… đặt ra thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, những đổi mới mang tính đột phá từ những đối thủ khác trong ngành có thể tạo ra áp lực lớn hơn nhằm tìm ra con đường mới để phát triển của doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải liên tục đổi mới (EC, 1995; William R. Kerr, 2016), ngay cả khi quá trình này diễn ra rất chậm.Về mặt này, tiến bộ kỹ thuật là chưa đủ để đảm bảo thành công. Đổi mới cũng có nghĩa là dự đoán nhu cầu của thị trường, cung cấp chất lượng hoặc dịch vụ bổ sung, tổ chức hiệu quả, nắm vững chi tiết và kiểm soát chi phí (EC, 1995). Do đó, chỉ doanh nghiệp ĐMST mới là các doanh nghiệp của tương lai, được đặc trưng bởi mức độ nhận thức cao, tính linh hoạt và khả năng thích ứng với những biến động, khả năng tích hợp thành công các công nghệ mới trong hệ thống hiện có, với thời gian và chi phí tối thiểu (Ionescu, A. and Dumitru, N. R., 2015).

ĐMST là yếu tố chính quyết định năng lực cạnh tranh, tăng trưởng, lợi nhuận và tạo ra các giá trị bền vững (Ionescu, A. and Dumitru, N. R., 2015; OECD, 2018). ĐMST cho phép doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn thông qua việc tập hợp tri thức, kỹ năng về công nghệ, kinh nghiệm trong sáng tạo và phát triển và giới thiệu ý tưởng mới trong hình thức của đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình sản xuất hoặc đổi mới mô hình kinh doanh (Distanont, A. and Khongmalai, O., 2018). Nhìn chung, ĐMST đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

ĐMST dưới hình thức là sản phẩm mới góp phần gia tăng doanh số vì các sản phẩm mới này đóng góp đáng kể vào sự hài lòng của khách hàng hiện tại cũng như tìm kiếm được các khách hàng mới (Gurhan Gunday và cộng sự, 2011). Đổi mới sản phẩm mang lại lợi ích cho năng suất của doanh nghiệp bằng cách tạo ra một nguồn nhu cầu tiềm năng có khả năng làm tăng hiệu ứng quy mô hoặc yêu cầu ít đầu vào hơn so với các sản phẩm cũ. Mức độ ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm tới năng suất của doanh nghiệp là khác nhau tùy thuộc vào tính mới (một sản phẩm là mới với thị trường sẽ có tiềm năng lớn hơn trong việc gia tăng năng suất (Burcu Fazhoglu và cộng sự, 2016). Ngoài ra, ĐMST cho phép doanh nghiệp trình bày sản phẩm mới hoặc sản phẩm được cải thiện tới thị trường trước các đối thủ cạnh tranh và do đó có thể gia tăng thị phần của doanh nghiệp (Distanont, A. and Khongmalai, O., 2018).

Đổi mới quy trình sản xuất sẽ làm giảm chi phí sản xuất hoặc chi phí vận chuyển, gia tăng chất lượng sản phẩm. Đổi mới phương pháp tổ chức có thể là tiền đề và tạo điều kiện cho đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình, vì thành công của đổi mới sản phẩm và quy trình phụ thuộc vào sự thích hợp của những thay đổi đó đối với cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Đổi mới phương pháp tổ chức làm giảm chi phí hành chính hoặc chi phí giao dịch, cải thiện tính linh hoạt và sự hài lòng nơi làm việc và do đó gia tăng năng suất lao động. Nhìn chung, ĐMST về quy trình sản xuất và phương pháp tổ chức đóng góp lớn cho việc giảm chi phí và gia tăng tính linh hoạt của doanh nghiệp (Burcu Fazhoglu và cộng sự, 2016; Gurhan Gunday và cộng sự, 2011).

Cuối cùng, đổi mới marketing làm gia tăng sự hài lòng của khách hàng cũng như trực tiếp hướng sự quan tâm của khách hàng tới doanh nghiệp (Gurhan Gunday và cộng sự, 2011), đồng thời giúp doanh nghiệp thích ứng hơn với sự thay đổi của các điều kiện thị trường.Thông qua đổi mới marketing, việc thực hiện các phương pháp bán hàng và phân phối mới có thể nâng cao hiệu quả và hiệu suất của doanh nghiệp (Burcu Fazhoglu và cộng sự, 2016).

ĐMST trong các doanh nghiệp Việt Nam

Việt Nam đang có những kết quả tích cực trong việc thực hiện ĐMST. Chỉ số ĐMST toàn cầu của Việt Nam năm 2019 tiếp tục được cải thiện vị trí, đứng thứ 42 trên 129 quốc gia/nền kinh tế được xếp hạng, tăng 3 bậc so với năm 2018 và tăng 17 bậc so với năm 2016.

Hình. Hoạt động ĐMST trong doanh nghiệp năm 2016

Nguồn: Bộ KH&CN, 2019

Theo kết quả khảo sát, doanh nghiệp có hoạt động ĐMST chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng số doanh nghiệp được khảo sát (58,47% doanh nghiệp nhỏ, 64,02% doanh nghiệp vừa, 68,82% doanh nghiệp lớn). Số lượng doanh nghiệp ĐMST có xu hướng tăng lên theo quy mô doanh nghiệp. Xét theo loại hình, khối doanh nghiệp nhà nước có tỷ trọng hoạt động ĐMST cao hơn. Trong các doanh nghiệp đổi mới sản phẩm, 89% là doanh nghiệp lớn và 11% còn lại là doanh nghiệp vừa và nhỏ.Nguồn: Bộ KH&CN, 2019

Việc thực hiện ĐMST thúc đẩy tăng trưởng của các doanh nghiệp Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế cả nước.  Kết quả triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao, Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia cho thấy, các doanh nghiệp có mức tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 18,8%, kết quả kinh doanh sản phẩm của các nhiệm vụ này ước đạt gần 3.424 tỷ đồng trong 5 năm tới, trung bình chiếm 33,6% doanh thu của các doanh nghiệp.

Tuy đã đạt được các kết quả tích cực, song năng lực ĐMST của Việt Nam vẫn đang còn một khoảng cách tương đối xa để tiệm cận với các quốc gia đi đầu về ĐMST (Bộ KN&CN, 2019). Trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện chính sách để đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ thống ĐMST, xây dựng tiềm lực về R&D và tiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025”.

Tài liệu tham khảo

  1. Alexandru Ionescu and Nicoleta Rossela Dumitru (2015). The role of innovation in creating the company’s competitive advantage,Ecoforum 4(1). p.99-104.
  2. Bộ KH&CN (2019). Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần tăng năng suất lao động. Hội nghị Cải thiện năng suất lao động quốc gia 2019.
  3. Burcu Fazlıoğlu, Başak Dalgıç and Ahmet Burçin Yereli (2016). The Effect of Innovation on Productivity: Evidence from Turkish Manufacturing, MPRA Paper No. 75773.
  4. Distanont, A. and Khongmalai, O. (2018). The role of innovation in creating a competitive advantage,Kasetsart Journal of Social Sciences (2018). p. 1-7.
  5. EC (European Commisstion) (1995). Green Paper on Innovation.
  6. Freeman, C. and Soete, L. (1997). The economics of industrial innovation (3rded.). Cambridge, MA: MIT Press.
  7. Gurhan Gunday, Gunduz Ulusoy, Kemal Kilic, Lutfihak Alpkan (2011). Effects of innovation types on firm performance,Int. J. Production Economics 133 (2011). p. 662-676.
  8. OECD/Eurostat (2005). Oslo Manual: Guidelines for Collecting and Interpreting Innovation Data, 3rd Edition. The Measurement of Scientific and Technological Activities. OECD Publishing. Paris. 
  9. OECD (2010). Innovation to strengthen growth and address global and social challenges. Key findings. Ministerial report on the OECD Innovation Strategy.
  10. OECD (2015). Boosting Malaysia’s National Intellectual Property System for Innovation. OECD Publishing. Paris.
  11. OECD (2018). Promoting innovation in established SMEs. Parallel session 4. SME Ministerial Conference. 22-23 February 2018. Mexico City.
  12. William R. Kerr (2016). Innovation and Business Growth. Moving to the Innovation Frontier. WPZ Research Frontier No. 3 (2016). p.41-53.
Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202