Tin Kinh tế- xã hội

Kinh nghiệm của Thái Lan trong bảo hộ sở hữu trí tuệ và đổi mới sáng tạo

Cập nhật lúc: 21/05/2020 10:00:00 AM

Trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT)

Những năm gần đây, môi trường SHTT ở Thái Lan nói chung đã liên tục được cải thiện. Hệ thống luật pháp về SHTT của Thái Lan cũng được sửa đổi và hoàn thiện. Cụ thể:

- Luật Sáng chế năm 1979, được sửa đổi mới nhất vào vào năm 1999 để tuân thủ các quy định của Hiệp định TRIPS và tạo điều kiện tham gia các thỏa thuận khu vực và quốc tế về sáng chế.

- Luật Bản quyền năm 1994, được sửa đổi mới nhất năm 2018.

- Luật Nhãn hiệu năm 1991, được sửa đổi mới nhất năm 2016.

- Luật Bảo vệ giống cây trồng năm 1999.

- Luật Bí mật thương mại năm 2002, được sửa đổi vào năm 2015.

- Luật Bảo hộ Chỉ dẫn địa lý năm 2003.

Năm 2017, Cục SHTT Thái Lan đã công bố Lộ trình SHTT 20 năm đưa ra những chỉ dẫn cho việc phát triển SHTT của đất nước trong vòng 2 thập kỷ tới. Lộ trình sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nhân Thái và các sản phẩm của Thái Lan khi di chuyển vào thị trường toàn cầu và tạo ra các cơ hội thương mại. Lộ trình bao gồm 4 lĩnh vực: sáng tạo, bảo hộ, thương mại hóa, thực thi, và hai lĩnh vực liên quan đến SHTT cộng đồng và SHTT quốc gia là chỉ dẫn địa lý và tài nguyên di truyền, kiến thức truyền thống, biểu hiện văn hóa truyền thống (là những lĩnh vực mà Thái Lan có lợi thế cạnh tranh).

Năm 2018, Cục SHTT Thái Lan đã giới thiệu đầy đủ hệ thống nộp đơn điện tử mới để đăng ký nhãn hiệu, bằng sáng chế và bằng sáng chế thiết kế và cũng để ghi bản quyền. Hệ thống nộp đơn điện tử mới này là hệ thống đăng nhập một lần cho 4 loại tài sản trí tuệ chính trong một nền tảng. Hệ thống này sẽ không hoàn toàn thay thế cách nộp giấy truyền thống nhưng nó là tùy chọn vì nó sẽ hoạt động cùng với việc nộp giấy truyền thống.

Về nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp, năm 1997, Thái Lan thành lập Tòa án Thương mại quốc tế và SHTT có thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự và hình sự liên quan đến SHTT. Kinh nghiệm của các thẩm phán đã được cải thiện thông qua việc đào tạo cho các nhân viên tòa án, thẩm phán, cơ quan hải quan và các cơ quan thực thi quyền SHTT khác (đặc biệt là Cục Điều tra đặc biệt và Cảnh sát Hoàng gia Thái Lan). Năm 2016, Thái Lan thành lập một Tiểu ban về “Ngăn chặn vi phạm SHTT” để giải quyết và ngăn chặn các vấn đề xâm phạm quyền SHTT, tăng cường bảo hộ SHTT theo các tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng hình ảnh của Thái Lan như là một quốc gia thân thiện với SHTT (South-east Asia IPR SME Helpdesk, 2016b).

Bên cạnh đó, luật pháp về quyền SHTT ở Thái Lan tuân thủ các tiêu chuẩn về SHTT quốc tế như Hiệp định TRIPS. Thái Lan cũng tham gia các công ước về SHTT khác nhằm tạo ra một hệ thống bảo hộ SHTT bình đẳng và được tiêu chuẩn hóa. Năm 2008, Thái Lan đã ký Công ước Paris về bảo hộ tài sản công nghiệp và tham gia Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT) vào năm 2009. Thái Lan cũng là một bên ký kết Công ước Berne về bảo vệ các tác phẩm văn học và nghệ thuật và tham gia Nghị định thư Madrid. Các hợp tác song phương và đa phương mà Thái Lan tham gia ký kết có đề cập tới vấn đề về SHTT. Cụ thể, Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) giữa Nhật Bản và Thái Lan có một chương độc lập về SHTT, bao gồm 23 điều khoản chủ yếu đề cập đến việc đơn giản hóa và tăng tính minh bạch của các thủ tục, tăng cường bảo vệ quyền SHTT và tăng cường thực thi.

Nhìn chung, Thái Lan đã có nhiều nỗ lực trong bảo hộ SHTT trong những năm gần đây. Những nỗ lực này đã được công nhận bởi Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR). Cơ quan này đã loại Thái Lan ra khỏi Danh sách theo dõi ưu tiên năm 2017 và chuyển sang danh mục theo dõi thấp hơn. USTR đánh giá cao việc thành lập Ủy ban quốc gia về Chính sách SHTT và một tiểu ban thực thi các luật bảo hộ SHTT. Việc Thủ tướng và một Phó Thủ tướng đang lãnh đạo các ủy ban này thể hiện mức độ cam kết cao của Chính phủ Thái Lan đối với việc giải quyết các vi phạm bản quyền.

Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo (ĐMST)

Về thực hiện ĐMST, nhìn chung, việc vận hành hệ thống chính sách đổi mới và R&D của Thái Lan trong một thời gian dài bị phân tán và gặp nhiều vấn đề về quản trị như nhiều cơ quan chịu trách nhiệm cho việc tài trợ và quản lý (dễ dẫn đến xung đột lợi ích); quá trình phân bổ ngân sách thiếu sự giám sát, kiểm soát và đánh giá chương trình; các kế hoạch hành động không có ưu tiên; khu vực tư nhân không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ vào quá trình xây dựng chính sách;… (Saowaruj Rattanakhamfu and Somkiat Tangkitvanich, 2018). Do đó, năm 2016, Chính phủ Thái Lan đã cải cách lại cấu trúc hệ thống đổi mới bằng cách thành lập Hội đồng Chính sách Nghiên cứu và Đổi mới quốc gia là cơ quan hoạch định chính sách duy nhất. Văn phòng Khoa học công nghệ và ĐMST và Hội đồng Nghiên cứu quốc gia Thái Lan cùng chia sẻ vai trò thư ký của Hội đồng mới này.

Chính phủ Thái Lan cũng nhận ra tầm quan trọng của R&D đối với tăng trưởng kinh tế. Do đó, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia lần thứ 12 đặt ra mục tiêu tăng tổng đầu tư cho R&D lên 2% trong GDP vào năm 2021. Để đạt được mục tiêu, Chính phủ Thái Lan đã đưa ra nhiều cơ chế ưu đãi về thuế cho R&D. Ngân sách R&D cao hơn đã được phân bổ cho các cơ quan trong các bộ ngành, trường đại học công và các đơn vị nghiên cứu của Chính phủ. Chính phủ cũng yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ít nhất 1% doanh thu vào R&D. Chính phủ Thái Lan cũng cung cấp các ưu đãi về thuế để khuyến khích đầu tư R&D khu vực tư nhân. Cùng với đó, Trung tâm Hỗ trợ R&D doanh nghiệp hướng tới tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư R&D của các doanh nghiệp tư nhân. Năm 2016, loạt sự kiện “Thái Lan khởi nghiệp 2016” được triển khai để tạo nguồn cảm hứng cho các doanh nhân mới. Chương trình mua sắm của Chính phủ ủng hộ sáng tạo địa phương là một sáng kiến khác để thúc đẩy ĐMST trong khu vực doanh nghiệp địa phương.

Để phát triển nguồn nhân lực cho đổi mới khoa học và công nghệ (KH&CN), Chính phủ Thái Lan hướng tới việc cải thiện nguồn nhân lực nói chung và kỹ năng thông qua các chính sách và chương trình cụ thể như: Chính sách phát triển lực lượng lao động và giáo dục STEM, Chương trình Giáo dục kép, Chương trình Học kết hợp với làm việc và Chương trình Phát triển kỹ năng. Nhận thấy khoảng cách giữa cung và cầu về cán bộ nghiên cứu trong khu vực công và tư nhân, Bộ KH&CN đã khởi động chương trình “Di chuyển nhân tài” (Talent Mobility) năm 2015. Mục đích của Chương trình là nhằm khuyến khích sử dụng công nghệ mới ở khu vực tư nhân thông qua việc thúc đẩy sự di chuyển cán bộ nghiên cứu từ các trường đại học và cơ quan nghiên cứu chính phủ tới khu vực tư nhân. Từ khi bắt đầu năm 2013, Chương trình Di chuyển nhân tài đã hỗ trợ việc di chuyển 240 nhà nghiên cứu và 157 sinh viên, làm việc với 127 dự án và tổng cộng 111 công ty đã tham gia chương trình vào giữa năm 2016. Tuy nhiên, tỷ lệ di chuyển nghiên cứu viên còn hạn chế do các trường đại học và viện nghiên cứu của Chính phủ không có động lực để tham gia chương trình.

Ngoài ra, nhiều cơ quan chính phủ khác cũng thực hiện các cơ chế khác nhau nhằm thúc đẩy các hoạt động ĐMST, bên cạnh hỗ trợ R&D. Cơ quan Đổi mới quốc gia cung cấp các khoản tài trợ hỗ trợ cho việc phát triển và thương mại hóa các sản phẩm và quy trình sản xuất mới. Cơ quan Phát triển KH&CN quốc gia thực hiện Chương trình hỗ trợ công nghệ công nghiệp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong các dự án phát triển công nghệ bằng cách kết nối doanh nghiệp với các nguồn công nghệ cả trong và ngoài nước. Hội đồng Đầu tư có các ưu đãi thuế cho các nhà đầu tư công nghiệp trong và ngoài nước để khuyến khích đầu tư vào đào tạo, R&D và hợp tác giữa ngành công nghiệp và trường đại học.

Đầu tư cho R&D là một đầu vào quan trọng cho việc đổi mới công nghệ. Mặc dù đầu tư R&D của Thái Lan tăng đều qua các năm nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp, khoảng 0,62% GDP năm 2015. Một dấu hiệu tích cực là đầu tư R&D tư nhân đang tăng lên nhanh chóng và đã vượt đầu tư công từ năm 2011. Đầu tư cho R&D của khu vực doanh nghiệp Thái Lan tăng 360% trong giai đoạn 2008-2014 với trọng tâm hướng vào lĩnh vực chế tạo. Số lượng nhân viên R&D cũng tăng gần 3 lần, từ 32.011 người năm 2001 lên 89.617 người năm 2015. Tuy nhiên, số nhân viên R&D trên 1 triệu dân của Thái Lan vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực.

Tài liệu tham khảo

1. Marco Valenza (2013). Intellectual Property Rights and Technology Transfer to Developing Countries: A reassessment of the current debate. International

2. South-east Asia IPR SME Helpdesk (2016b). IP Country Factsheet: Thailand.

3. Saowaruj Rattanakhamfu and Somkiat Tangkitvanich (2018). Innovation Policy in Thailand. Innovation Policy in ASEAN. Economic Research Institute for ASEAN and East Asia. p. 218-246.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202