Tin Kinh tế- xã hội

Tình hình sở hữu trí tuệ của Việt Nam qua Chỉ số Sở hữu trí tuệ quốc tế

Cập nhật lúc: 28/02/2020 03:00:00 PM

Từ năm 2012, Trung tâm Chính sách Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GIPC) thuộc Phòng Thương mại Hoa Kỳ đã xây dựng Chỉ số Sở hữu trí tuệ (SHTT) toàn cầu (U.S. Chamber International IP Index). Phiên bản đầu tiên được xây dựng dựa trên 25 yếu tố biểu thị môi trường SHTT và cho 11 quốc gia (1) . Chỉ số này có thể được sử dụng theo nhiều cách, để đo lường và so sánh môi trường SHTT của quốc gia và các dạng SHTT (bằng sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu thương mại, sự thực thi, thành viên của các Hiệp ước quốc tế). Chỉ số SHTT toàn cầu để đo lường động lực của một quốc gia trong việc xây dựng nền kinh tế đổi mới và sáng tạo, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư. Từ năm 2014, chỉ số này được tính toán hàng năm với nhiều chỉ tiêu được bổ sung liên tục và cho nhiều quốc gia hơn (trong đó có Việt Nam). Tới năm 2020, chỉ số SHTT toàn cầu gồm 50 chỉ tiêu và được tính toán cho 53 quốc gia chiếm 90% tổng sản phẩm quốc nội của toàn cầu.

Nhìn chung, Việt Nam thuộc nhóm có chỉ số SHTT quốc tế và thứ hạng thấp. Năm 2020, nước ta xếp thứ 42 trên tổng số 53 quốc gia được xem xét. Trong khu vực châu Á, nước ta xếp thứ 12/15 và chỉ đứng trên Thái Lan, Indonesia và Pakistan (Hình 1). So với năm 2019, thứ bậc của nước ta có sự cải thiện nhẹ. Tuy nhiên, Việt Nam có sự cải thiện đáng kể về điểm số SHTT quốc tế. Năm 2020, Chỉ số SHTT quốc tế của Việt Nam đạt 18,31 điểm; tăng 4,5 điểm so với năm 2019. Ở khu vực châu Á, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong nhóm thu nhập trung bình thấp có mức cải thiện Chỉ số SHTT quốc tế cao; ba quốc gia khác có mức cải thiện cao (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) đều thuộc nhóm thu nhập cao (Hình 2).

                                                                                            Nguồn: U.S. Chamber of Commerce

 

                                                                                       Nguồn: U.S. Chamber of Commerce

Báo cáo năm 2020 cho thấy Việt Nam làm tốt trong ba lĩnh vực chính –(i) khung bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cơ bản với các hình phạt mạnh hơn đối với vi phạm quy mô thương mại, (ii) hội nhập ngày càng tăng với các nền tảng SHTT quốc tế như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam E.U; và (iii) nỗ lực lâu dài trong phối hợp thực thi SHTT (Hình 3).

                                                                                         Nguồn: U.S. Chamber of Commerce. 

Về môi trường SHTT quốc gia, báo cáo nhấn mạnh nỗ lực của Việt Nam trong hội nhập quốc tế về SHTT. Ví dụ, Chiến lược SHTT đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 8/2019 nhằm định hướng các văn bản chính sách về SHTT trong thập kỷ tới (2). Chiến lược nhấn mạnh tài sản SHTT là cần thiết cho tăng trưởng và thịnh vượng của Việt Nam trong tương lai. Báo cáo ca ngợi Việt Nam đã sử dụng một cách tiếp cận toàn diện và chiến lược đối với chính sách SHTT quốc gia của mình bằng cách công nhận mối liên hệ giữa việc cung cấp và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tạo ra, thương mại hóa và phát triển tài sản SHTT. Xây dựng một chiến lược SHTT thành công sẽ giúp Việt Nam "nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội" (Global Innovation Policy Center, 2020).

Tuy vậy, Việt Nam vẫn thiếu sự bảo vệ đầy đủ bằng sáng chế; còn các lỗ hổng trong bảo vệ bản quyền, bao gồm thiếu biện pháp xử lý các vi phạm trực tuyến; tỷ lệ giả mạo cao và vi phạm trực tuyến tràn lan; việc thực thi bảo hộ SHTT còn yếu, các hình phạt chưa đủ hiệu quả về mặt thực hành và hành chính./.

 (1) Gồm: Ôxtrâylia, Trung Quốc, Nga, Brazil, Ấn Độ, Anh, Canada, Malaysia, Mỹ, Chile và Mexico

(2)Từ trước đó, nhận thức được ảnh hưởng sâu rộng của SHTT tới sự phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam đã tích cực xây dựng chính sách pháp luật và đẩy mạnh thực thi chính sách về SHTT. Luật SHTT được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 (Luật số 50/2005/QH11), quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó. Tới năm 2009, Quốc hội khóa XII thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT (Luật số 36/2009/QH12). Để kịp thời đáp ứng các yêu cầu về chính sách trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), ngày 14/6/2019, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số 42/2019/QH14). Bên cạnh đó, nhiều Bộ luật, luật khác cũng đã được ban hành với các điều khoản liên quan tới SHTT.

Tài liệu tham khảo

Global Innovation Policy Center. (2020). Art of the Possible (8th edition; U.S. Chamber International IP Index). U.S. Chamber of Commerce.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202