Phân tích và Dự báo

Yếu tố quyết định dòng vốn FDI giữa các quốc gia và các nền kinh tế

Cập nhật lúc: 31/12/2019 09:35:00 AM

Nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn về FDI giữa các quốc gia/nền kinh tế đã chỉ ra rằng, những yếu tố quan trọng nhất quyết định dòng chảy vốn FDI bao gồm mức độ hoàn thiện về thể chế, quy mô thị trường, thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, mức độ hạn chế FDI, vị trí địa lý, quan hệ địa chính trị và sự tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ giữa các nước.

1. Quy mô thị trường

Quy mô thị trường là yếu tố quan trọng để thu hút dòng vốn FDI với mục tiêu tìm kiếm thị trường. Những quốc gia có quy mô thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ cũng là những nước thu hút FDI lớn. Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia thu hút vốn FDI lớn, đồng thời cũng là hai nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới. Mỹ vẫn được xem là thị trường lớn nhất trên thế giới với dân số trên 325 triệu người với GDP bình quân đầu người (GDP/người) là 59.532 USD/người vào năm 2017. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Mỹ đạt 3% trong năm 2017, với mức tăng 1.943 USD/người so với con số 57.589 USD/người của năm 2016.. Đồng thời, Mỹ cũng đang có hiệp định thương mại tự do với hơn 20 quốc gia khác nhau cung cấp khả năng tiếp cận tới hàng trăm triệu người tiêu dùng trên toàn thế giới. Các doanh nghiệp có trụ sở đặt tại Mỹ có những lợi thế cạnh tranh nhất định. Theo WB, Mỹ không bị áp đặt bất cứ rào cản nào, do vậy các hàng hóa xuất khẩu từ Mỹ có thủ tục nhanh nhất thế giới.Với dân số hơn 1,4 tỉ người, Trung Quốc cũng có lợi thế cả về thị trường tiêu thụ lớn và nguồn nhân lực khổng lồ. Kinh tế Trung Quốc cũng tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua. Với tốc độ tăng trưởng cao trên 9%/năm trong giai đoạn 2002-2011 và tốc độ tăng trưởng 6-8%/năm trong giai đoạn 2012 đến nay, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ, và có quy mô GDP năm 2017 lên tới trên 12 nghìn tỉ USD. Tầng lớp trung lưu của Trung Quốc tăng nhanh và hiện đã lên tới 200-300 triệu người. Trong vòng một thập kỷ qua, Trung Quốc cũng chiếm tới 70% lượng mua hàng hóa xa xỉ trên toàn cầu mỗi năm. Trung Quốc cũng đạt tới thang điểm 7/7 về chỉ số quy mô thị trường (market size) trong báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2017-2018 của Diễn đàn kinh tế thế giới, nhờ đó xếp hạng số 1 thế giới về khía cạnh này.

2. Thể chế, môi trường kinh doanh

Phần lớn các nền kinh tế thu hút FDI lớn nhất thế giới như Mỹ, EU, Singapore, Hồng Kông và Australia đều có hệ thống thể chế khá hoàn thiện theo chuẩn mực quốc tế, nhờ đó tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài.

Sự công bằng trong hệ thống pháp luật Mỹ là điều mà mà rất ít quốc gia có được. Đây được xem là điểm mạnh của Mỹ so với nhiều quốc gia khác.. Các công ty đều được đối xử bình đẳng tại Mỹ và phải tuân theo cùng một nền luật pháp, quy tắc và các thủ tục để triển khai việc kinh doanh. Theo Báo cáo Doing Business 2017 do WB công bố, Mỹ đứng thứ 8/190 về chất lượng môi trường kinh doanh. Còn theo Báo cáo xu hướng đầu tư toàn cầu xếp hạng, Mỹ cũng đứng đầu trong các quốc gia thu hút đầu tư FDI giai đoạn 2016-2018. Singapore đứng thứ 3 thế giới về xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017-2018, và có thứ hạng cao trong rất nhiều chỉ số như giáo dục và đào tạo bậc cao (xếp thứ 1), hiệu quả thị trường hàng hóa (xếp thứ 1), thể chế (xếp thứ 2), cơ sở hạ tầng (xếp thứ 2), và hiệu quả thị trường lao động (xếp thứ 2). Những nỗ lực cải cách không ngừng nhằm tạo điều kiện thuận lợi và cải thiện môi trường đầu tư ở Singapore chính là động lực mạnh mẽ để thu hút các nhà đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài đến hoạt động kinh doanh tại đảo quốc Sư tử này. Singapore nổi tiếng với bộ máy hành chính hoạt động rất trơn tru, nhanh chóng, với sự cộng tác hiệu quả giữa các các cơ quan hữu quan để giúp doanh nghiệp hoạt động và phát triển dễ dàng

Chính sách đầu tư của EU cũng nghiêng về việc cung cấp cho các nhà đầu tư sự ổn định và chắc chắn về mặt pháp lý cùng với môi trường thuận lợi để thực hiện kinh doanh và tuân thủ các quy tắc quốc tế. EU đã bãi bỏ tất cả các rào cản thương mại đang đóng vai trò cản trở thương mại tự do. Hơn nữa, Liên minh châu Âu cũng đã áp dụng một loại tiền tệ phổ biến, đóng vai trò là sự bổ sung chính cho việc gia tăng thương mại trong Liên minh châu Âu.

3.2.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp

Do mục tiêu lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận, nên thuế thu nhập doanh nghiệp thấp là một yếu tố quan trọng để thu hút FDI. Tuy nhiên, Mỹ là một trường hợp ngoại lệ. Mặc dù có mức thuế thu nhập doanh nghiệp rất cao trong năm 2017 (35%), Mỹ vẫn là nước thu hút FDI lớn nhất thế giới. Điều này có thể do thuế thu nhập doanh nghiệp không phải là yếu tố chính tác động tới dòng vốn FDI vào Mỹ. FDI vào Mỹ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực chế biến chế tạo, tài chính và bảo hiểm, trong đó lĩnh vực chế biến chế tạo chiếm tới 39%. Trong ngành chế biến chế tạo, FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực hóa chất (để tận dụng nguồn khí đốt tự nhiên sẵn có và chi phí thấp) và các lĩnh vực công nghệ cao như thiết bị vận tải, dụng cụ và thiết bị điện, máy tính và các sản phẩm điện tử (để tận dụng đội ngũ chuyên gia và nguồn nhân lực chất lượng cao). Bên cạnh đó, Mỹ cũng là nước có nhiều lợi thế để thu hút FDI hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, từ quy mô thị trường, công nghệ, trình độ nhân lực, thể chế, cơ sở hạ tầng cho tới nguồn lực tài nguyên. Do vậy, dù thuế thu nhập doanh nghiệp cao, Mỹ vẫn là thị trường hấp dẫn đối với FDI. Đối với những nền kinh tế quy mô nhỏ như Hồng Kông và Singapore, việc sử dụng công cụ thuế thu nhập doanh nghiệp thấp, kết hợp với các yếu tố khác như hoàn thiện thể chế, mở cửa nền kinh tế, tăng cường đào tạo nhân lực chất lượng cao... đã giúp khắc phục điểm yếu về quy mô kinh tế, và nhờ đó rất thành công trong thu hút FDI.

4. Cơ sở hạ tầng và vị trí địa lý

Cơ sở hạ tầng hiện đại và đồng bộ vẫn là một yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài. Phân tích tương quan giữa chất lượng cơ sở hạ tầng (đo lường bằng điểm số về cơ sở hạ tầng trong Chỉ số cạnh tranh toàn cầu) và FDI đối với mỗi nền kinh tế trong số 17 nền kinh tế được nghiên cứu cho thấy có mối tương quan thuận chiều giữa chất lượng cơ sở hạ tầng và dòng vốn FDI vào trong nước. Phần lớn những nền kinh tế thu hút FDI lớn đều có điểm số cao về cơ sở hạ tầng như Mỹ, EU, Singapore, Hồng Kông và Australia. Một số nền kinh tế có điểm số về cơ sở hạ tầng thấp như Việt Nam và Philipin cũng thu hút FDI thấp hơn những quốc gia/nền kinh tế khác trong nghiên cứu. Tuy nhiên vẫn có những ngoại lệ như Nhật Bản có điểm số về chất lượng hạ tầng cao nhưng FDI vẫn thấp, trong khi Ấn Độ và Trung Quốc có điểm số về hạ tầng không cao vẫn thu hút lượng vốn FDI lớn. Điều này có thể giải thích do Nhật Bản có nhiều bất lợi thế đối với thu hút FDI như dân số già, chi phí nhân công cao và khan hiếm tài nguyên. Trong khi đó Ấn Độ và Trung Quốc có rất nhiều lợi thế thu hút FDI như thị trường lớn, nguồn nhân lực khổng lồ, chi phí nhân công và các chi phí khác thấp hơn, và đây cũng là những yếu tố quan trọng giúp các nhà đầu tư nước ngoài tối đa hóa lợi nhuận.

5. Trình độ công nghệ

Trình độ công nghệ của nước nhận đầu tư đóng vai trò quan trọng trong thu hút FDI do khả năng tích tụ công nghệ có thể giúp nâng cao hiệu quả, giảm chi phí sản xuât. Bên cạnh đó, việc đầu tư vào những nước có trình độ công nghệ cao còn nhằm mục tiêu tiếp thu công nghệ tại nước đó. Phân tích tương quan giữa sáng tạo công nghệ (đo bằng chỉ số về sáng tạo trong Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017-2018) và FDI cho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa hai yếu tố này. Những nền kinh tế dẫn đầu về khả năng đổi mới sáng tạo như Mỹ, EU và Singapore đều là những nền kinh tế thu hút FDI lớn. Tuy nhiên vẫn có những ngoại lệ như Nhật Bản, dù có điểm số cao về sáng tạo công nghệ, nhưng các bất lợi thế lớn như đề cập ở trên đã cản trở các nhà đầu tư tối đa hóa lợi nhuận khi đầu tư vào quốc gia này. 

6. Nguồn nhân lực

Lao động là một yếu tố đầu vào của sản xuất và do vậy đóng vai trò quan trọng trong thu hút FDI. Do các dòng vốn FDI có những định hướng khác nhau như FDI hướng vào giảm chi phí lao động và FDI nhằm tận dụng đội ngũ chuyên gia, nên nguồn nhân lực tác động tới thu hút FDI từ cả khía cạnh số lượng lao động cũng như chất lượng lao động. Phân tích tương quan giữa số lượng lao động (đại diện bằng dân số) với FDI và chất lượng lao động (đại diện bằng điểm số về đào tạo nghề trong Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 2017-2018) với FDI cho thấy cả hai mối quan hệ này đều tỉ lệ thuận. Nguồn nhân lực dồi dào (giúp giảm chi phí lao động) và chất lượng lao động cao đều tác động tích cực tới thu hút FDI.

7. Mức độ hạn chế FDI

Mức độ hạn chế FDI đo lường các biện pháp hạn chế đối với FDI của nước nhận đầu tư xét về các khía cạnh hạn chế sở hữu nước ngoài, cơ chế giám sát hoặc phê duyệt đầu tư, hạn chế nhân sự chủ chốt là người nước ngoài và hạn chế về hoạt động. Mức độ hạn chế đối với đầu tư nước ngoài ở mỗi nước khác nhau đáng kể giữa các ngành, và ảnh hưởng tới dòng vốn FDI vào ngành đó. Ngành dịch vụ là ngành thường bị hạn chế về FDI lớn nhất. Các nước OECD nhìn chung có mức độ hạn chế FDI khá thấp, trong khi các nước đang phát triển có mức độ hạn chế cao hơn, đặc biệt là một số ngành như thông tin, truyền thông, bưu chính viễn thông, vận tải, hàng không, dịch vụ tài chính. Hàn Quốc mặc dù đã trải qua một quá trình tự do hóa, nhưng mức độ hạn chế FDI hiện vẫn cao hơn so với nhiều nước OECD khác. Tại châu Á, những quốc gia duy trì mức độ hạn chế FDI khá cao hiện nay gồm Philipin, Trung Quốc, Indonesia và Malaysia.

8. Quan hệ chính trị, sự tương đồng về văn hóa và ngôn ngữ với nước nhận đầu tư

Sự gần gũi về quan hệ địa chính trị, văn hóa và ngôn ngữ cũng giải thích cho dòng chảy vốn FDI giữa các quốc gia. Trong tổng vốn FDI vào Trung Quốc, có tới gần một nửa là vốn của Hồng Kông, trong khi Đài Loan cũng là một đối tác lớn của Trung Quốc. Điều này có thể được lý giải bởi mối quan hệ đặc biệt về lịch sử, chính trị, văn hóa và ngôn ngữ giữa các nền kinh tế này. Hồng Kông là một trong hai đặc khu hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (cùng với Macao), được Anh trao trả cho Trung Quốc vào năm 1997. Tuy nhiên, Hồng Kông vẫn có hệ thống pháp luật, kinh tế và văn hóa riêng tách biệt khỏi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Hồng Kông cũng là một động lực thúc đẩy kinh tế Trung Quốc. Trước khi trở về với Trung Quốc, Hồng Kông đã trở thành “một con rồng” của Châu Á với nhịp độ tăng trưởng kinh tế thương mại nhanh chóng. Hiện nay, Hồng Kông với vai trò là một trung tâm tài chính hàng đầu của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, một cảng tự do quốc tế lớn, một trung tâm thương mại hiện đại chính là một cửa ngõ quan trọng cho Trung Quốc trong hoạt động kinh tế đối ngoại cũng như làm thị trường trung gian để hàng hóa Trung Quốc tới được các thị trường thứ ba (đặc biệt là trung gian giữa Đài Loan và Trung Quốc). Đối với Đài Loan, vấn đề chủ quyền vẫn là vẫn là gây tranh cãi giữa Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) với Đài Loan (hay còn gọi là Trung Hoa Dân quốc) do những yếu tố lịch sử để lại. Trung Quốc luôn muốn khẳng định vị thế “một Trung Quốc” và coi Đài Loan là một tỉnh của Trung Quốc, trong khi đó Đài Loan (Trung Hoa Dân quốc) luôn giữ quan điểm cho rằng họ là một quốc gia có chủ quyền.  Khả năng chiến tranh, sự gần gũi địa lý giữa Đài Loan và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (kiểm soát lục địa Trung Quốc), và kết quả của những cuộc va chạm vài năm lại xảy ra một lần khiến cho đây trở thành một trong những địa điểm tập trung sự chú ý quốc tế tại Thái Bình Dương.

Trung Quốc có quan hệ chính trị khá phức tạp với các nước trên thế giới và có thể là nguyên nhân khiến cho đầu tư của các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc tại Trung Quốc chưa tương xứng với tiềm năng. Sự nổi lên của Trung Quốc là một thách thức với vị trí số 1 thế giới của Mỹ, và hiện hai nước đang có những đối đầu về kinh tế cũng như tranh giành ảnh hưởng trên thế giới. Những bất đồng trong vấn đề Đài Loan và Biển Đông (Mỹ ủng hộ quan điểm giữ nguyên hiện trạng trên Biển Đông) cũng là yếu tố cản trở quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Đối với Nhật Bản, quan hệ giữa hai nước đã tốt đẹp hơn trong thời gian gần đây, nhưng những mẫu thuẫn trong quá khứ do chiến tranh và những tranh chấp lãnh thổ hiện tại trên biển Hoa Đông vẫn là rào cản trong quan hệ giữa hai nước. Đối với các nước Đông Nam Á, Trung Quốc có mối quan hệ phức tạp. Trung Quốc có tranh chấp lớn đối với một số nước trong khu vực, đặc biệt là Philipin và Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, tiềm lực quân sự và kinh tế lớn của Trung Quốc khiến các nước phải dè chừng. Các nước ASEAN cực kỳ quan ngại trước một Trung Quốc “trỗi dậy” nhanh chóng, trong khi đó Bắc Kinh cố “làm yên lòng” các láng giềng phía Nam của mình bằng cách củng cố tối đa quan hệ kinh tế với những nước này. Ngoài quan hệ kinh tế, quan hệ hợp tác quân sự- kỹ thuật (của Trung Quốc) với các nước trong khu vực cũng được đẩy mạnh, và mối quan hệ hợp tác quân sự này là một chỉ thị kế hiển thị rất rõ mức độ gần gũi về chính trị giữa Trung Quốc với nước này hay nước khác trong khu vực Đông Nam Á.

Phân tích dòng vốn vào và ra của Mỹ cũng cho thấy Mỹ duy trì quan hệ đầu tư lớn với những nước có sự gần gũi về quan hệ chính trị cũng như ngôn ngữ. Dòng vốn FDI của Mỹ lớn nhất được đổ vào EU, vốn có quan hệ ngoại giao tốt đẹp với Mỹ và sự tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ. Mỹ và EU đã có quan hệ hợp tác trong hơn sáu mươi năm. Quan hệ Mỹ-EU chính thức bắt đầu vào năm 1953 khi đại sứ Hoa Kỳ đến thăm Cộng đồng Than và Thép châu Âu (tiền thân của EU). Hai bên chia sẻ một mối quan hệ tốt đẹp được củng cố bằng sự hợp tác về thương mại, quốc phòng quân sự và các giá trị chung. Mỹ cũng đầu tư lớn vào Canada, quốc gia láng giềng mà Mỹ có quan hệ tốt và có nhiều tương đồng về văn hóa. Đầu tư của Mỹ tại Trung Đông rất thấp, và có thể xuất phát từ những xung đột về chính trị giữa hai bên, trong khi đó Mỹ đầu tư khá lớn vào châu Á Thái Bình Dương và châu Mỹ Latinh - những khu vực có quan hệ chính trị khá tích cực với Mỹ. Ở chiều ngược lại, châu Âu, châu Á Thái Bình Dương và Canada cũng đầu tư khá lớn vào Mỹ.

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202