Tin Kinh tế- xã hội

Cam kết đầu tư trong các hiệp định thương mại tự do

Cập nhật lúc: 31/12/2019 10:44:00 AM

Trong những thập niên gần đây, xu hướng ký kết các hiệp định thương mại tự do khu vực song phương hay đa phương (FTA) là hiện tượng nổi bật trong hệ thống thương mại quốc tế. Các FTA này không chỉ tác động tới dòng thương mại giữa các nước mà tác động tới dòng thương mại giữa các nước mà còn tác động tới các dòng đầu tư. Việc một FTA cuối cùng có thể tác động tăng hoặc giảm dòng FDI phụ thuộc vào ảnh hưởng của việc giảm chi phí thương mại và chi phí đầu tư cũng như động cơ đầu tư FDI (tìm kiếm hiệu quả hay tìm kiếm thị trường). Nhìn chung, FDI luôn được coi là có lợi cho các nước đang phát triển, đặc biệt vì nó gây tác động lâu dài đến tăng trưởng kinh tế. Đầu tư FDI cũng dẫn đến hội nhập sâu hơn vào thị trường thế giới và là chìa khóa kết nối sự tham gia của các nền kinh tế vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Các điều khoản đầu tư trong các hiệp định FTA nhìn chung đều khá toàn diện. Xu hướng các FTA gần đây đều bao gồm các điều khoản về đầu tư thông qua một loạt các nguyên tắc và cam kết tự do hóa đầy đủ. 

Mở cửa thị trường

Thông thường, vấn đề tự do hóa đầu tư được nhắc đến khi thảo luận các biện pháp đầu tư song phương. Hầu hết các FTA đều đề cập đến việc tự do hóa, mở rộng và thúc đẩy đầu tư song phương. Đầu tư trong các hiệp định này chủ yếu thông qua các nguyên tắc không phân biệt đối xử bao gồm nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và nguyên tắc MFN. Các quốc gia cam kết sẽ đối xử bình đẳng với các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong nước. Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc loại bỏ tất cả rào cản đầu tư. Ví dụ, các quốc gia vẫn duy trì điều kiện đầu tư để loại bỏ một số nhà đầu tư. Điều kiện này có thể áp dụng đối với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, các FTA nói chung thường có một cơ chế “khuyến khích” loại bỏ rào cản đầu tư.

Trong hầu hết các BIT, cam kết về NT và MFN chỉ áp dụng cho giai đoạn đầu tư. Các điều khoản về đầu tư trong FTA thường cam kết rộng hơn, đảm bảo các nguyên tắc như tiếp cận thị trường, áp dụng NT và MFN không chỉ giới hạn trong giai đoạn đầu tư mà còn cả giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Cam kết NT có nghĩa là các công ty trong và ngoài nước phải được đối xử như nhau. Việc áp dụng nguyên tắc này trong giai đoạn trước đầu tư có hiệu quả đặc biệt đối với mở cửa thị trường, hạn chế tối đa rào cản mà nhà đầu tư nước ngoài thường gặp phải so với nhà đầu tư trong nước khi chuẩn bị tiến hành đầu tư.   

Về nguyên tắc MFN, tuy là một điều khoản cốt lõi trong bất kỳ hiệp định đầu tư quốc tế nhưng không phải tất cả các FTA đều áp dụng MFN như nhau. Có hai loại quy định MFN trong một thỏa thuận ưu đãi. Thứ nhất, điều khoản này quy định rằng khoản đầu tư hoặc một nhà đầu tư từ một bên phải được đối xử không kém thuận lợi hơn một nhà đầu tư từ một bên khác mà bên đó có tham gia trong hiệp định (đối với hiệp định có nhiều bên tham gia). Loại MFN thứ hai được gọi là MFN “non-party” hoặc “third- party”, được áp dụng cho các nhà đầu tư hoặc khoản đầu tư của bên khác một sự đối xử không kém thuận lợi hơn bất kỳ bên thứ ba nào ngay cả khi không tham gia hiệp định. Loại hình này thứ hai này có thể được xem như là một cơ chế tự do hóa hiệu quả, mở rộng các cam kết trong các hiệp định gần đây. Việc không có điều khoản MFN kiểu này trong một hiệp định là một cách để ngăn chặn sự đa phương hóa các nghĩa vụ về đầu tư và với mục đích phân chia thị trường đầu tư khi một số FTA có điều khoản về đầu tư ưu đãi hơn so với FTA khác. Trong một số trường hợp khi các doanh nghiệp nước ngoài bị phân biệt đối xử so với doanh nghiệp trong nước thì quy tắc NT trong các FTA có thể được coi là một biện pháp quan trọng xóa bỏ điều đó. Tuy nhiên, ở một số quốc gia vì một lý do nào đó việc áp dụng các điều khoản ưu đãi như miễn giảm thuế hoặc trợ cấp lại chỉ dành riêng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Việc cam kết MFN dạng nào là đặc biệt quan trọng đối với nhà đầu tư. 

Theo Chauffour (2011) các nguyên tắc về tiếp cận thị trường rất quan trọng đối với việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài, và tạo ra sân chơi công bằng cho các công ty trong nước và ngoài nước. Thông thường nguyên tắc này dựa trên mô hình của hai hiệp định trong thực tế, bao gồm: Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và GATs. Trong các FTA dựa trên NAFTA thông thường chương đầu tư được thiết kế riêng, tách khỏi các cam kết về dịch vụ. Nguyên tắc tiếp cận thị trường chủ yếu dựa trên quy tắc NT và MFN áp dụng trong cả giai đoạn trước và sau đầu tư. Các FTA này chọn cách cận chọn bỏ (nagative list). Ngoài ra, việc tự do hóa và mở cửa thị trường còn gắn với quy tắc chỉ tiến không lùi (ratchet). Theo đó, các cải thiện môi trường đầu tư thông qua dỡ bỏ rào cản chỉ được phép thuận lợi hơn so với trước đó. Với các hiệp định dựa trên GATS,các thỏa thuận có sự kết hợp của tiếp cận thị trường với nguyên tắc NT trong lĩnh vực dịch vụ. Cách tiếp cận thị trường theo GATS được xác định bằng danh sách sáu loại hạn chế định lượng bị cấm (xem Delimatsis và Molinuevo, 2008). Theo GATS điều XVI, trong những lĩnh vực đã cam kết mở cửa thị trường, các thành viên không được duy trì hoặc ban hành những biện pháp sau, dù là ở quy mô vùng hoặc trên toàn lãnh thổ, trừ trường hợp có quy định khác trong Danh mục cam kết:

-  Hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ dù dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng, độc quyền, toàn quyền cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế;
-  Hạn chế tổng trị giá các giao dịch về dịch vụ hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng, hoặc yêu cầu phải đáp ứng nhu cầu kinh tế;
-  Hạn chế tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lương dịch vụ đầu ra tính theo số lượng đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế;
-  Hạn chế về tổng số thể nhân có thể được tuyển dụng trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thể hoặc một nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng cần thiết hoặc trực tiếp liên quan tới việc cung câp một dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế;
-  Các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liên doanh thông qua đó người cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch vụ;
-  Hạn chế về tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài bằng việc quy định tỷ lệ phần trăm tối đa cổ phần của bên nước ngoài hoặc tổng trị giá đầu tư nước ngoài tính đơn hoặc tính gộp. 

Trong cả hai loại FTA, các quốc gia vẫn có thể duy trì chế độ bảo hộ đối với những ngành cụ thể thông qua các danh mục loại trừ. Đối với các ngành có cam kết, các biện pháp bảo hộ bị hạn chế.

Một cách tiếp cận thuận lợi hơn cho việc tự do hóa đầu tư là tuân theo nguyên tắc “rollback”. Cho đến nay, chỉ có các cam kết trong OECD có các nguyên tắc như vậy. Theo đó, các bên sẽ thường kỳ rà soát các biện pháp hạn chế còn lại và cần phải giải thích rõ ràng việc tiếp tục áp dụng các biện pháp của mình và các quốc gia khác có thể thuyết phục họ loại bỏ các rào cản này hoặc đề xuất các biện pháp ít hạn chế hơn để đạt được những mục tiêu đã đưa ra (OECD 2008). 

Bảo hộ đầu tư

Các điều khoản về bảo hộ đầu tư trong các BIT thường được đưa vào các cam kết đầu tư trong FTA. Vì thế câu hỏi đặt ra là mức độ bảo hộ trong FTA có sâu hơn với BIT không? Câu trả lời phụ thuộc chủ yếu vào loại FTA và việc trước đó giữa các bên có ký kết BIT không: 
(i)    Trong trường hợp khi không có BIT nào tồn tại giữa các quốc gia và FTA là hiệp định đầu tiên, phạm vi và mức độ bao hộ phụ thuộc vào kết quả đàm phán. 

(ii)    Trong trường hợp đã có BIT một số nước quyết định duy trì BIT hiện tại cùng với FTA, đặc biệt khi hai bộ quy tắc trong FTA và BIT có xu hướng bổ sung cho nhau. Trường hợp, FTA với các điều khoản toàn diện hơn BIT thì BIT có thể bị thay thế hoặc bị chấm dứt; hoặc FTA có thể loại bỏ một phần các quy định của BIT khi nó bắt đầu có hiệu lực. 

Với FTA có một chương đầu tư riêng rẽ, các quy định về bảo hộ đầu tư nói chung tương đương với nội dung của các BIT tương tự. Thực tế là một số thoả thuận dựa vào GATS không ngăn cản đầu tư vào các dịch vụ hưởng lợi từ các biện pháp bảo vệ đầu tư cơ bản được quy định trong chương đầu tư. Không giống như chương dịch vụ đề cập đến "sự hiện diện thương mại", các chương đầu tư của các FTA dựa trên GATS sử dụng định nghĩa đầu tư rộng hơn về tài sản, và các quy định về bảo vệ đầu tư áp dụng cho định nghĩa rộng này. Houde, Kolse-Patil, và Miroudot (2007) trên cơ sở phân tích 20 FTA cho thấy không có sự khác biệt về mức độ bảo vệ đầu tư giữa các hiệp định FTA được dựa trên GATS hay NAFTA.

Tóm lại, không có trở ngại nào đối với việc đưa các quy định về bảo hộ đầu tư thường được tìm thấy trong các BIT vào các FTA, hơn hết các nước nói chung đã áp dụng cùng một loại quy định trong cả hai loại thỏa thuận. Sự khác biệt còn lại giữa BITs và FTA tùy thuộc vào cảm kết FTA giữa các bên cũng như việc trước đó đã có BIT hay không. Một số nước đã thiết kế các FTA có thể thay thế BIT trước đó, trong khi một số khác duy trì một phần bảo đảm cho các nhà đầu tư nước ngoài trong BIT và không thu thập được các quy định trong FTA.

Giải quyết tranh chấp

Cơ chế giải quyết tranh chấp cho phép các nhà đầu tư bảo vệ quyền lợi của họ một cách trực tiếp. Cơ chế giải quyết tranh chấp giúp thực hiện các điều khoản đầu tư một cách hiệu quả hơn bởi vì nó cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm biện pháp khắc phục thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ của nước chủ nhà. Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước phụ thuộc vào trọng tài đặc biệt gồm một trọng tài độc lập thường tuân theo các quy tắc của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL) hoặc phụ thuộc vào một trọng tài thường trực thông qua Trung tâm Quốc tế về Giải quyết Đầu tư tranh chấp (ICSID).

Quy định giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ bắt thường nguồn từ các BIT và một số quy định từ hệ thống trọng tài thương mại. Trong các hiệp định thương mại, mô hình giải quyết các tranh chấp của nhà nước và nhà đầu tư được minh họa bằng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (Choi 2007). Một trong những hiệp định FTA đầu tiên có các cam kết kiểu này là NAFTA. Mặc dù nhiều FTA hiện nay có điều khoản về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ, một số hiệp định được mô hình NAFTA sau này lại thiếu một cơ chế như vậy; một ví dụ điển hình là Hiệp định Thương mại Tự do Australia-Hoa Kỳ (Dodge 2006). Ngay cả khi có quy định, các nhà đàm phán đôi khi không muốn mở rộng phạm vi của mình cho các nguyên tắc liên quan đến đầu tư mới được tìm thấy trong các hiệp định thương mại. Cụ thể, trong các hiệp định có một chương riêng về các dịch vụ bao gồm các điều khoản tiếp cận thị trường và các điều khoản đối xử quốc gia về đầu tư vào dịch vụ, việc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ không được áp dụng. Ngược lại, số vụ tranh chấp giữa các nhà đầu tư và nhà nước trong khuôn khổ các thoả thuận đầu tư quốc tế đã tăng lên, với tổng số 255 trường hợp được biết đến vào cuối năm 2006 (UNCTAD 2006).
 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202