Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới

Dự báo triển vọng kinh tế thế giới năm 2020

Cập nhật lúc: 30/12/2019 02:22:00 PM

Tình hình kinh tế thế giới năm 2019

Tình hình kinh tế và địa chính trị thế giới năm 2019 có nhiều biến động phức tạp. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc và xung đột thương mại giữa nhiều nước gây ra những tác động sâu rộng và nhiều chiều đến kinh tế thế giới. Chủ nghĩa bảo hộ leo thang, tiến trình Brexit bế tắc. Căng thẳng địa chính trị tiếp diễn tại nhiều khu vực trong đó nối bật là khu vực Trung Đông, với tâm điểm là quan hệ Mỹ - Iran,  khu vực biển Đông, quan hệ Mỹ - Triều Tiên,…Do tác động của các yếu tố căng thẳng thương mại và biến động địa chính trị, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới giảm xuống còn 3,07% - mức thấp nhất kể từ thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu và thấp hơn đáng kể so với mức trung bình 3,83% trong giai đoạn 2010-2018.

Tốc độ tăng trưởng tại các nền kinh tế phát triển có xu hướng chững lại do chiến tranh thương mại và sự kiện Brexit.Kinh tế Mỹcó xu hướng đi xuống trong năm 2019. Căng thẳng thương mại với Trung Quốc đã làm suy yếu lòng tin của doanh nghiệp, khiến đầu tư kinh doanh tại Mỹ giảm hai quý liên tiếp. Trong khi đó, tác động của gói cắt giảm thuế trị giá 1.500 tỷ USD vào năm ngoái đang yếu dần, gây trở ngại cho phục hồi tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ dự kiến giảm từ 2,93% năm 2018 xuống còn 2,24% năm 2019. Kinh tế châu Âucũng trên đà suy giảm do tác động của chiến tranh thương mại, triển vọng kinh tế toàn cầu xấu đi và tác động của sự kiện Brexit.Tốc độ tăng trưởng kinh tế EU năm 2019 dự kiến chỉ đạt 1,1% so với 1,9% năm 2018.Kinh tế Nhật Bảngặp nhiều bất ổn trong năm 2019. Sản xuất trì trệ, tình hình giảm phát không cải thiện chủ yếu do cầu trong nước và nước ngoài giảm. Xuất nhập khẩu hàng hóa giảm do xuất khẩu sang Trung Quốc giảm sút (nhu cầu phụ tùng ôtô và thiết bị sản xuất chất bán dẫn từ Trung Quốc giảm). Bên cạnh đó, Nhật Bản đã quyết định tăng thuế tiêu dùng từ ngày 1/10/2019 từ 8% lên 10%, trong bối cảnh gánh nặng về an sinh xã hội gia tăng do tốc độ dân số già hóa nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản năm 2019 dự kiến chỉ đạt 0,9%.

Tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển sụt giảm, một số nền kinh tế rơi vào suy thoái do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung.Kinh tế Trung Quốc liên tục giảm tăng trưởng. GDP quý III/2019 chỉ tăng 6%,  mức thấp nhất trong 27 năm, và dự kiến 6,16% cho cả năm 2019. Nguyên nhân suy giảm tăng trưởng chủ yếu là sức cầu trong nước giảm và cuộc chiến thương mại kéo dài với Mỹ. Mặc dù vậy, mức tăng trưởng vẫn nằm trong mục tiêu 6-6,5% trong năm 2019, đồng thời các chỉ số kinh tế vĩ mô vẫn tương đối ổn định. Để hỗ trợ tăng trưởng, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) ngày 16/10 đã bơm 200 tỷ NDT (28 tỷ USD) vào hệ thống tài chính thông qua cơ chế cho vay trung hạn cho các ngân hàng, nhằm duy trì khả năng thanh khoản trên thị trường.Các nền kinh tế Đông Nam Á cũng gặp khó khăn do xuất khẩu giảm.

Thị trường tài chính tiền tệ thế giới có nhiều biến động trong năm 2019 chủ yếu do sự thay đổi liên tục các chính sách từ các NHTW.Về lãi suất:Xu hướng nới lỏng tiền tệ diễn ra ở một loạt quốc gia nhằm kích thích kinh tế do ảnh hưởng của xung đột thương mại.Trái với dự kiến cuối năm 2018 về việc tăng lãi suất 2 lần trong năm 2019, FED quyết định cắt giảm lãi suất 3 mỗi lần 0,5 điểm % trong bối cảnh nguy cơ bất ổn kinh tế gia tăng. Tại châu Âu, ECB đã giảm lãi suất tiền gửi xuống -0,5% từ mức -0,4%, giữ nguyên hoặc giảm lãi suất cho vay và tái khởi động lại chương trình mua tài sản (chương trình nới lỏng định lượng – QE) từ ngày 1/11 với 20 tỷ euro (22 tỷ USD) mỗi tháng, kéo dài tới khi được mục tiêu lạm phát. Về tỷ giá, mặc dù lãi suất cơ bản của Mỹ điều chỉnh 3 lần, thị trường ngoại hối quốc tế cũng không có biến động mạnh do việc hạ lãi suất đã được dự báo trước. Do Chính phủ Trung Quốc chủ động điều chỉnh tỷ giá tham chiếu, tỷ giá NDT trên thị trường tiếp tục biến động mạnh và đạt những mốc mới.

Thương mại toàn cầu cũng ảm đạm hơn do thương chiến Mỹ - Trung, những bất ổn xung quanh tiến trình Brexit và sự dịch chuyển chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế phát triển. WTO (10/2019) dự báo thương mại hàng hóa toàn cầu sẽ chỉ tăng 1,2% trong năm 2019, thấp hơn một nửa so với mức dự báo 2,6% đưa ra vào tháng 4/2019 và giảm mạnh so với mức tăng trưởng 3% vào năm 2018. Theo WTO, tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2019 sẽ bị sụt giảm tại hầu hết mọi khu vực trên thế giới. Cụ thể, tăng trưởng xuất khẩu ở các nền kinh tế phát triển dự kiến chỉ tăng 0,4% trong năm 2019 (so với 2,1% năm 2018) và các nền kinh tế đang phát triển chỉ đạt 2,1% (so với 3,5% năm 2018). Tăng trưởng xuất khẩu ở Bắc Phi dự báo chỉ đạt 1,5%, giảm so với 4,5% năm 2018. Tại châu Á và châu Âu, các mức tăng trưởng xuất khẩu dự báo sẽ lần lượt là 1,8% và 0,6%, giảm mạnh so với mức tương ứng 3,8% và 1,6% trong năm 2018.

Dòng vốn đầu tư toàn cầu có xu hướng hồi phục và dự kiến tăng 5-10% so với năm 2018 do xu hướng rút vốn về nước của các công ty Mỹ giảm. Dù chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi chiến tranh thương mại, dòng vốn FDI vào Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng, đặc biệt là vào công nghệ cao.Dòng kiều hốivào các nước thu nhập thấp và trung bìnhdự kiến tiếp tục tăng 4,7% trong năm 2019 lên 551 tỷ USD (World Bank, 10/2019).

Giá cả hàng hóa thế giới có xu hướng giảm trong năm 2019. Phần lớn các chỉ số giá hàng hóa chính đều giảm trong quý 3 năm 2019, dẫn đầu là năng lượng - giảm hơn 8% (so với quý trước). Giá dầu thế giới có xu hướng phức tạp, tăng trong 4 tháng đầu năm 2019 khi OPEC liên tục giảm sản lượng và Mỹ áp lệnh trừng phạt lên Iran và Venezuela, đồng thời đàm phán thương mại Mỹ-Trung có dấu hiệu tiến triển. Tuy nhiên, những căng thẳng thương mại leo thang từ tháng 5/2019 đã khiến giá dầu giảm trở lại. Giá dầu thô đạt trung bình 60 USD/thùng trong năm 2019 và 58 USD/thùng trong năm 2020. Trong bối cảnh rủi ro tăng cao của một cuộc suy thoái toàn cầu ngày càng tăng, khả năng nhu cầu dầu sẽ tăng chậm lại.

Triển vọng kinh tê thế giới năm 2019 và tác động tới kinh tế Việt Nam

Triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 dự báo sẽ cải thiện hơn so với năm 2019 do những tiến triển trong đàm phán thương mại Mỹ-Trung Quốc,động lực tăng trưởng từ các nền kinh tế đang nổi và đang phát triển ở châu Mỹ Latinh, Trung Đông và châu Âu và các điều kiện tài chính toàn cầu thuận lợi hơn. NCIF dự báo mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 đạt 3,14%, tăng so với mức 3,07% của năm 2019. Một số nhân tố khác cũng hậu thuẫn cho kinh tế thế giới năm 2020 gồm: giá cả hàng hóa thế giới hạ nhiệt; việc ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do tạo thêm kỳ vọng cho tăng trưởng. Bên cạnh đó,  đàm phán thương mại Mỹ-Trung cũng đạt được một số tiến triển mới với việc Mỹ và Trung Quốc đồng ý sẽ dỡ bỏ một phần thuế quan bổ sung.

Mặc dù vậy, triển vọng tăng trưởng năm 2020 vẫn còn bấp bênh khi những rủi ro cản trở triển vọng kinh tế thế giới vẫn chưa thực sự hạ nhiệt. Căng thẳng thương mại giữa Mỹ và các nước đối tác khó có thể chấm dứt trong ngắn hạn sẽ là rủi ro chủ yếu gây cản trở đến tốc độ tăng trưởng của thương mại và đầu tư thế giới. Dự báo của  IMF cho thấy Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung sẽ khiến cho kinh tế toàn cầu mất đi 700 tỉ USD tính tới cuối năm 2020. Bên cạnh đó, sự kiện Brexit sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế Anh, khi Anh dự kiến sẽ rời EU vào ngày 31/1/2020. IMF (10/2019) nhận định kinh tế thế giới đang phát triển với nhịp độ yếu nhất kể từ thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 trong khi các xung đột thương mại gia tăng làm giảm lòng tin của giới đầu tư và kinh doanh.

Tốc độ tăng trưởng tại các nền kinh tế phát triển dự báo sẽ giảm tốc trong năm 2020. Kinh tế Mỹ được dự báo tăng chậm lại do tác động của chiến tranh thương mại, lạm phát tăng và do hiệu quả đang giảm dần của các biện pháp kích thích kinh tế. Triển vọng kết thúc chiến tranh thương mại với Trung Quốc vẫn chưa chắc chắn. NCIF dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ ở mức 1,92% trong năm 2020, giảm so với 2,24% trong năm 2019. Trong khi đó,kinh tế EUdự báo cũng tăng trưởng thấp ở mức 1,33% trong năm 2020 (dù cải thiện so với 1,14% trong năm 2019) do ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi gồm sự kiện Brexit, chiến tranh thương mại, và sự giảm tốc của các đầu tàu tăng trưởng như Mỹ, Trung Quốc. Kinh tế Nhật Bảndự báochỉ đạt 0,16% trong năm 2020, giảm so với 0,9% năm 2019 do tình trạng già hóa dân sốngày càng trầm trọng và việc Chính phủ tăng thuế tiêu dùng từ mức 8% lên 10% vào tháng 10/2019.

Tăng trưởng kinh tế ở một số nên kinh tế mới nổi và đang phát triển có xu hướng chậm lại năm 2020 do ảnh hưởng bởi chiến tranh thương mại Mỹ -Trung và nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc.NCIF dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giảm tốc xuống còn 5,83% trong năm 2020, sau khi tăng 6,16% trong năm 2019. Tăng trưởng chậm lại ở Trung Quốc một phần do nước này đang hướng tới một mô hình tăng trưởng mới ít phụ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu, thay vào đó dựa nhiều hơn vào tiêu dùng cá nhân, dịch vụ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây là những cải cách cần thiết để cho Trung Quốc tránh "bẫy thu nhập trung bình". Mặc dù Mỹ và Trung Quốc đạt được một số tiến triển trong đàm phán thương mại, nhưng khó có khả năng Mỹ sẽ dỡ bỏ toàn bộ thuế đối với hàng Trung Quốc trong thời gian tới.

Các nền kinh tế đang nổi châu Ádự báo tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi Chiến tranh thương mại và kinh tế Trung Quốc giảm tốc. Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung dự bao sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng không nhỏ tới triển vọng kinh tế ASEAN đặc biệt là Singapore (điểm trung chuyển hàng hóa lớn nhất của Mỹ và Trung Quốc). Thái Lan, Indonesia và Philippin có thể phải đối mặt với nhiều tác động tiêu cực từ suy yếu trong hoạt động sản xuất, rủi ro về bảo hộ thương mại và xáo trộn chuỗi cung ứng trong vài quý tới.

Thương mại thế giới được dự báo sẽ phục hồi nhẹ nhờ hiệu ứng tích cực từ các hiệp định thương mại thế hệ mới gần đây có hiệu lực sẽ giúp thúc đẩy thương mại và quá trình hội nhập sâu hơn giữa các quốc gia. Sự phát triển của thương mại số sẽ thúc đẩy các hoạt động thương mại toàn cầu diễn ra nhanh hơn. Các dự báo mới nhất về thương mại toàn cầu đều cho thấy tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu sẽ suy giảm trong năm 2019, sau đó cải thiện hơn vào năm 2020. WTO (10/2019) dự báo tăng trưởng thương mại thế giới chỉ tăng 1,2% năm 2019 và có sự phục hồi nhẹ lên 2,7% năm 2020, giảm đáng kể so với mức dự báo 2,6% và 3% so với dự báo trong tháng 4/2019. IMF (10/2019) dự báo tăng trưởng thương mại thế giới chi đạt 1,1% năm 2019, và phục hồi ở mức 3,2% năm 2020.

Giá cả hàng hóa cơ bản trên thế giới được dự báo giảm vào cuối năm 2019 và năm 2020 do giảm tốc của thương mại và sản xuất toàn cầu. Giá năng lượng cũng được dự báo tiếp hạ nhiệt, theo đó chỉ số giá năng lượng ước tính giảm 12,7 điểm phần trăm năm 2019 so với năm 2018 và dự báo giảm 1,3 điểm phần trăm trong năm 2020 so với năm 2019. Giá dầu thô trung bình được dự báo đạt 60 USD/thùng năm 2019 và giảm xuống còn 58 USD/ thùng năm 2020 (WB, 10/2019). Mặc dù nguồn cung dầu có sự gián đoạn trong thời gian gần đây nhưng áp lực giảm giá dầu sẽ xuất hiện trong những tháng tới khi lượng tồn kho dầu toàn cầu tăng trong nửa đầu năm 2020.

Triển vọng kinh tế thế giới 2020 sẽ tác động nhiều chiều đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù kinh tế thế giới có xu hướng cải thiện trong năm 2020, nhưng triển vọng tăng trưởng các nền kinh tế lớn, đồng thời cũng là những đối tác lớn của Việt Nam như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn đang đà giảm tốc, không thực sự thuận lợi cho kinh tế Việt Nam trong năm 2020. Chiến tranh thương mại có thể tạo ra cho Việt Nam khá nhiều cơ hội về đầu tư và thương mại trong ngắn hạn, tuy nhiên về trung và dài hạn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến Việt Nam. Mặt khác, những rủi ro tài chính do thay đổi các quyết sách của các ngân hàng trung ương (liên quan đến lãi suất, tỷ giá) có thể cũng sẽ gây ra những tác động lớn đến công tác điều hành tài chính tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn tới. Trong những năm tới, dòng vốn FDI vào Việt Nam dự báo tiếp tục tăng do xu hướng dịch chuyển dòng vốn FDI khỏi Trung Quốc và triển vọng kinh tế từ việc thực hiện CPTPP và EVFTA. Tuy nhiên, những xu hướng này sẽ chỉ rõ ràng hơn sau 2020 khi các kịch bản về chiến tranh thương mại rõ hơn cũng như sẽ phụ thuộc nhiều vào cải cách thể chế từ cam kết trong CPTPP và EVFTA.

Trích nguồn:
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế ngành và Doanh nghiệp
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202