Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường: Kiểm chứng đường cong Kuznets ở một số quốc gia trên thế giới

Cập nhật lúc: 31/12/2019 03:00:00 PM

1.       Lý thuyết về đường cong Kuznets

          Đường cong Kuznets được nhà kinh tế học Simon Kuznets giới thiệu vào năm 1954 nhằm mô tả mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bất bình đẳng thu nhập. Đến năm 1991, đường cong Kuznets bắt đầu được sử dụng để biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và chất lượng môi trường qua thời gian. Các nhà kinh tế học sử dụng dữ liệu về chất lượng môi trường và mức thu nhập bình quân đầu người để kiểm chứng về mối quan hệ này. Nhiều bằng chứng cho thấy rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người và suy thoái môi trường tuân theo quy luật đường cong Kuznets dạng chữ U ngược. Mối quan hệ dạng chữ U ngược hàm ý rằng, suy thoái môi trường sẽ tăng lên trong các giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, nhưng sau đó suy thoái sẽ đạt đến mức đỉnh tại ngưỡng chuyển đổi (turning point); và mức suy thoái môi trường bắt đầu giảm khi mức thu nhập bình quân đầu người của quốc gia vượt một ngưỡng thu nhập nhất định nào đó. Trong trường hợp này, đường cong biểu thị mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường được gọi là đường cong Kuznets môi trường (EKC).

Hình 1. Đường cong môi trường Kuznets (EKC)

                   Về bản chất, đường cong Kuznets có thể hiểu rằng: vào thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, ô nhiễm thường tăng lên nhanh chóng do các quốc gia thường ưu tiên cho các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế trong khi chất lượng không khí hay chất lượng nguồn nước ít được quan tâm. Ở giai đoạn này, công nghiệp càng phát triển, các nguồn tài nguyên ngày càng bị khai thác và phát thải nhiều hơn các chất ô nhiễm làm chất lượng môi trường ngày càng suy giảm. Tuy nhiên, ở các thời kỳ sau của công nghiệp hóa, khi thu nhập được cải thiện, người dân có ý thức hơn về chất lượng môi trường xung quanh cũng như các nhà hoạch định chính sách quan tâm hơn đến môi trường của quốc gia, các công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến vì vậy được ưu tiên nghiên cứu và khuyến khích sử dụng nhằm cải thiện chất lượng môi trường.

2.       Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường ở một số nước trên thế giới

2.1.    Tại Trung Quốc

Năm 2008, Song nghiên cứu mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường và tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc sử dụng số liệu cấp tỉnh giai đoạn 1985-2005. Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng các chỉ số đại diện cho chất lượng môi trường gồm khí thải, nước thải và chất thải rắn; chỉ số đại diện cho tăng trưởng kinh tế là GDP/người. Kết quả cho thấy, mối quan hệ giữa Khí thải-GDP; Nước-GDP và Chất rắn-GDP có hình dạng đường cong khác nhau. Tuy nhiên, các mối quan hệ này có xu hướng tuân theo đường cong Kuznets về môi trường (EKC) (Hình 2).

Hình 2: Mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và GDP bình quân đầu người

Nguồn: Qian 2012.

Kết quả ở Hình 2 cho thấy, khi ở mức tăng trưởng kinh tế cao (GDP/người tăng), khí thải, nước thải và chất thải rắn tạo ra nhiều hơn. Tuy nhiên, khi đạt đến ngưỡng chuyển đổi của thu nhập bình quân đầu người, các chất thải này bắt đầu giảm xuống. Cụ thể, hai ngưỡng chuyển đổi về GDP/người của khí thải và chất thải rắn ở hình a và hình c khá gần nhau (khoảng 10 triệu CNY, tương đương US$ 14.309), trong khi ngưỡng chuyển đổi của nước thải thấp hơn (khoảng 9 triệu, tương đương US$ 12.878). Điều này hàm ý rằng, việc giảm nồng độ khí thải và chất thải rắn sẽ khó hơn so với việc giảm ô nhiễm nước, bởi khí thải và chất thải rắn chỉ bắt đầu giảm xuống khi Trung Quốc đạt được mức thu nhập bình quân cao hơn so với trường hợp giảm nước thải.

2.2.    Tại Hàn Quốc

Để xem xét ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế lên chất lượng môi trường ở Hàn Quốc, Ravi Ratnayake và Woo-Young Kim (1999) đã sử dụng bộ số liệu bảng hàng năm giai đoạn 1985-1995 ở các thành phố lớn nhất của Hàn Quốc gồm: Seoul, Pusan, Taegu, Inchon, Kwangju và Taejon. Năm chỉ số đại diện cho chất lượng không khí được xem xét là: CO, NO2, O3, SO2 và TSP. Kết quả về mối quan hệ giữa GDP/người và ô nhiễm không khí thể hiện ở hình 3.

Hình 3: Mối quan hệ giữa GDP/người và ô nhiễm không khí khu vực đô thị

                                                                                              Nguồn: Kim & Ratnayake 1999

Theo Hình 3, mối quan hệ giữa chỉ số NO2, O3 và GDP/người tuân theo đường cong EKC và có dạng chữ U ngược. Điều này cho thấy, ở mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nồng độ khí NO2 và O3 tăng lên và sau khi đạt đến mức đỉnh thì sẽ giảm dần khi mức thu nhập bình quân đầu người tăng. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa GDP/người và chất lượng không khí thể hiện ở nồng độ khí CO2 và SO2 có dạng chữ N ngược và không tuân theo đường cong EKC. Mối quan hệ này nghĩa là, ở mức thu nhập thấp, ô nhiễm không khí giảm xuống và sau đó ô nhiễm không khí tăng lên khi thu nhập tăng và cuối cùng có xu hướng giảm trở lại. Trong khi đó, mối quan hệ giữa TSP và GDP/người có dạng hình chữ N. Tức là, ban đầu GDP/người tăng và TSP có xu hướng tăng theo, sau đó TSP giảm xuống khi GDP/người tăng và cuối cùng TSP tăng trở lại. Như vậy, đối với trường hợp của TSP, ở các giai đoạn sau phát triển, chất lượng môi trường tiếp tục bị xấu đi ngay cả ở mức thu nhập cao (Kim & Ratnayake 1999).

2.3.    Tại Đài Loan

Trong nghiên cứu của Ming-Feng Hung và Daigee Shaw (2004), nhóm tác giả sử dụng số liệu giai đoạn 1988-1997 và SO2, NO2 và CO là các khí đại diện gây ô nhiễm môi trường. Kết quả cho thấy, mối quan hệ giữa thu nhập và các khí gây ô nhiễm tuân theo lý thuyết EKC. Theo đó, ngưỡng chuyển đổi của thu nhập bình quân đầu người đối với khí NO¬2 là 384.000 NT$ (tương đương US$ 12.800) và 205.000 NT$ (tương đương US$ 6.833) đối với khí CO.

Hình 4: Mối quan hệ giữa NO2, CO và thu nhập bình quân đầu người

                                                                                                 Nguồn: Hung & Shaw 2004

Theo kết quả nghiên cứu, nồng độ khí NO2 và CO đều có xu hướng giảm xuống khi thu nhập bình quân đầu người ở tất cả các vùng được xem xét ở Đài Loan tăng lên. Đáng chú ý là, ở các vùng nghiên cứu, cả CO và NO2 đều do ngành vận tải phát thải chính. Vì vậy, thu nhập tăng lên khiến nồng độ CO và NO2 giảm xuống một phần là người dân có đủ khả năng để sở hữu những chiếc ô tô thân thiện với môi trường hơn (Hung & Shaw 2004).

Tài liệu tham khảo :

1.       Hung, M.-F. and D. Shaw; (2004). Economic growth and the environmental Kuznets Curve in Taiwan: a simultaneity model analysis. Human capital, trade, and public policy in rapidly growing economies : from theory to empirics.

2.       Kim, R. R. W.-Y. (1999). Economic Growth and the Environment in high-performing East Asian countries: Lessons from South Korea. New Zealand, The University of Auckland

3.       Qian, L. Q. (2012). The Environment Quality and Economics Growth in China-A literature Review  and Discussion. KTH Industrial Engineering and Management. Stockholm, Sweden, KTH. Master.

4.       Song, T., Zheng, T.G., Tong, L.J.,2008. An empirical test of the environmental Kuznets curve in China: A panel cointegration approach. China Economic Review 19 (2008) 381–392.

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202