Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Kinh nghiệm sử dụng công cụ phí trong quản lý chất thải rắn của hộ gia đình ở một số nước trên thế giới

Cập nhật lúc: 30/12/2019 05:00:00 PM

1.       Tại các nước Châu Mỹ Latinh

Theo thống kê, khu vực các nước Châu Mỹ Latinh phát sinh khoảng 369 nghìn tấn rác thải rắn đô thị một ngày, tương đương mỗi người tạo ra 0,8 kg rác thải/ngày, trong đó tỷ lệ phát thải ở các trung tâm đô thị là 56% giai đoạn trước năm 2007. Đặc biệt, tỷ lệ này cao hơn trong mùa du lịch (hơn 2,4 kg/ngày/người) (Hoornweg & Giannelli, 2007). Trước tình hình đó, các nước trong khu vực đã đưa ra hệ thống phí, lệ phí để quản lý lượng chất thải rắn phát sinh của quốc gia mình.

Đối với khu vực dân cư, các hộ gia đình phải trả khoản phí cố định cho lượng chất thải thải bỏ, không phụ thuộc vào khối lượng, trọng lượng hay loại chất thải mà các hộ dân thải ra. Trong trường hợp này, công cụ phí người dùng sẽ giúp thu được phí của chủ phát thải, nhưng lại không hướng tới việc giảm chất thải tạo ra. Mặt khác, các nước Mỹ Latinh cũng gặp trường hợp một số người sử dụng dịch vụ thu gom rác thải mà không trả phí, dẫn đến tỷ lệ thu phí rác thải ở các hộ gia đình tương đối thấp. Chẳng hạn, ở các đô thị của Greater Santiago đã áp dụng công cụ phí rác thải trong nhiều năm, tuy nhiên tỷ lệ thu chỉ đạt 55%. Chính vì vậy, một số nước như Colombia, Ecuador, Bolivia đã lồng ghép khoản phí này vào hóa đơn điện ở nhiều thành phố của họ.

Ngoài ra, theo kinh nghiệm của các nước này, cần lưu ý rằng phí sử dụng cần được phân biệt với các chi phí khác như chi phí liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ như thu gom, vận chuyển, xử lý cuối cùng. Điều này sẽ khuyến khích người sử dụng cân nhắc việc vận chuyển chất thải của mình đến nơi tập kết xử lý rác. Các nước như Ecuador, Colombia và Venezuala đang áp dụng các mức phí kiểu này.

2. Tại Maputo, Mozambic

Maputo - thủ đô của Mozambic có số dân khoảng 1,2 triệu người, ước tính phát thải 1.000 tấn rác mỗi ngày. Với mức thu nhập trung bình 1 tháng của mỗi hộ gia đình khoảng 380 USD/tháng (2011), mỗi gia đình ở Maputo mất khoảng 0,6% thu nhập hàng tháng để giữ thành phố trong sạch. Thông qua đó, chính quyền thành phố áp dụng hệ thống lệ phí đánh trên lượng chất thải phát sinh để đạt được mục tiêu duy trì nguồn tài chính cho dịch vụ thu gom và quản lý rác thải của mình.

Ở Maputo, việc thu phí rác thải từ các hộ gia đình cũng được kết hợp thu thông qua hóa đơn điện nhằm mục đích nâng cao tỷ lệ thu phí. Tất cả các hộ gia đình ở đây đều kết nối với mạng lưới cung cấp điện của khu vực (EMD) để thanh toán phí rác thải. Phí rác thải áp dụng cho hộ gia đình gồm 4 mức phí tính theo biểu thuế lũy tiến của hệ thống EMD (xem Bảng 1).

Bảng 1. Phí rác thải áp dụng cho hộ gia đình (thực hiện từ 2007)

                                                                                                               Nguồn: Stretz, 2012

Năm 2007 sau khi áp dụng thành công, mức lệ phí trên có sự điều chỉnh từ năm 2010 cho phù hợp với thời điểm hiện tại. Đáng chú ý là ở nhóm Tiêu thụ năng lượng cao có mức phí rác thải cao hơn so với thời điểm dự thảo trước đó. Điều này chứng tỏ nhận thức của công chúng và nhà chính trị có sự thay đổi tích cực trong việc hỗ trợ quản lý chất thải rắn nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung ở thành phố Maputo (Stretz, 2012).

3. Tại Hàn Quốc

Hàn Quốc đưa ra mức phí thu thập rác thải đối với các hộ gia đình dựa trên khối lượng thực tế phát sinh, quy mô hộ gia đình hoặc thuế nhà đất. Trước khi Luật Quản lý chất thải ra đời (1986), chính quyền địa phương đã áp dụng việc tính phí thu gom rác thải đối với mỗi hộ gia đình. Tại thời điểm đó, mức phí chưa tính theo khối lượng chất thải rắn phát sinh mà chủ yếu dựa vào thuế nhà ở và số người trong hộ. Tuy nhiên, mức phí tại thời điểm năm 1992 thấp hơn nhiều so với chi phí thu gom và xử lý thực tế: chiếm 10% so với tổng chi phí xử lý (thu gom, vận chuyển, xử lý và 13,6% chi phí quản lý (thu gom, vận chuyển).

Từ năm 1994, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu triển khai thí điểm dự án tính phí rác thải dựa trên khối lượng phát sinh và phải được đóng gói vào túi rác được chứng nhận. Nếu rác thải không được đóng gói vào loại túi này thì sẽ không được thu gom, trừ rác thải có thể tái chế. Như vậy, hệ thống phí này khuyến khích việc tái chế vì chất thải tái chế được để riêng thì sẽ không cần phải trả phí. Nhờ những thành công đáng kể, năm 1995, Bộ Môi trường Hàn Quốc chính thức giới thiệu rộng rãi hệ thống tính phí cho rác thải rắn trên phạm vi cả nước, trong đó, chính quyền địa phương được phép sản xuất túi chứng nhận và được bán ở những nơi công cộng.

Giá bán của loại túi này phản ánh một phần chi phí thu gom, không phải toàn bộ chi phí xử lý: dao động từ 70-80 won cho loại túi có dung tích 5 lít; 130-140 won/túi 10 lít; 260 won/túi 20 lít và 640 won/túi 50 lít (thời điểm năm 1994), đến nay giá của các túi này cao hơn so với trước (xem Bảng 2)

Bảng 2: Giá túi rác tại Seoul năm 2012

                                                                                Nguồn: Seoul Metropolitan Government

Bộ Môi trường Hàn Quốc ước tính rằng, trung bình hàng tháng mỗi người sẽ phát sinh chất thải tương đương sử dụng túi 60 lít; một gia đình có 4 thành viên sẽ cần phải dùng loại túi 240 lít một tháng. Vì vậy, phí rác thải đối với mỗi hộ gia đình khoảng 3.000 won (khoảng 3,75 USD) mỗi tháng (tương đương với phí thu gom trước đó khi chưa sử dụng loại túi đóng gói rác thải theo quy định) (Cheong, 1995).

Hệ thống này đã chứng minh được sự thành công của Hàn Quốc trong nỗ lực cắt giảm lượng rác thải phát sinh. Theo Bộ Môi trường, lượng rác thải bình quân đầu người nước này đã giảm 23% từ 1,33 kg/ngày trước khi áp dụng hệ thống năm 1994, xuống còn 1,03 kg/ngày năm 2009 (Ng, 2013).

 

Tài liệu tham khảo:

1.       Cheong, H.-S. (1995). Pricing for Municipal Solid Waste Disposal in Korea. UK: The Centre for Global and Economic Research on the Global Environment University College London & University of East Anglia.

2.       Hoornweg, D., & Giannelli, N. (2007). Managing municipal solid waste in Latin America and the Caribbean. Gridlines.

3.       Ng, T. (2013). South Korea's waste management policies. Seoul: Legislative Council Secretariat.

4.       Stretz, J. (2012). Economic Instruments in Solid Waste Management (Case Study Maputo, Mozambique). Berlin: Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202