Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Phát triển doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam

Cập nhật lúc: 27/12/2019 05:00:00 PM

Từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc “Đổi mới” đến nay, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu về tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống toàn dân. Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, các vấn đề về xã hội và môi trường đã nảy sinh, tăng dần cả về số lượng và quy mô. Điều này đòi hỏi Việt Nam cần có chính sách chú trọng tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường và công bằng xã hội. Để đảm bảo mục tiêu trên, việc phát triển mô hình doanh nghiệp tạo tác động xã hội là một hướng đi hoàn toàn đúng đắn.

1. Doanh nghiệp tạo tác động xã hội

Hiện nay, doanh nghiệp xã hội tồn tại dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau như: tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, hợp tác xã, doanh nghiệp có mục tiêu vì xã hội. Với ý nghĩa, vai trò và thực tiễn phát triển, doanh nghiệp xã hội đã chính thức được thừa nhận về pháp lý trong Luật doanh nghiệp 2014 của Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp xã hội đăng ký theo Luật doanh nghiệp 2014 cần phải đáp ứng được các tiêu chí sau:

- Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp;

- Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;

- Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

Tuy nhiên trên thực tế, nhiều doanh nghiệp tuyên bố không đăng ký hoặc không thừa nhận là doanh nghiệp xã hội theo Luật vì tính cứng nhắc của việc phải cam kết tái đầu tư 51% lợi nhuận, mặc dù đã được công nhận rộng rãi bởi cộng đồng là doanh nghiệp phục vụ mục tiêu xã hội hoặc môi trường. Bên cạnh đó, hầu hết các nhóm khởi nghiệp xã hội không muốn được gọi là doanh nghiệp xã hội vì hình ảnh công chúng của khu vực này thường mang tính yếu thế, thiếu năng động.

Do những nguyên nhân trên, khái niệm doanh nghiệp tạo tác động xã hội (Social Impact Business-SIB) đã được đề xuất với hy vọng có sự tham gia nhiều hơn của các doanh nghiệp có đặc điểm tương đồng nhưng không lựa chọn việc tự nhận là doanh nghiệp xã hội do quan điểm kinh doanh, quan điểm quản trị. SIB được hiểu là các loại hình tổ chức, doanh nghiệp thông qua hoạt động thương mại, giải pháp kinh doanh để tạo tác động tích cực lên xã hội và môi trường.

2. Phát triển doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam

Hiện nay tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp SIB chiếm khoảng 4% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, ước tính tương đương khoảng 22.000 doanh nghiệp. Phần lớn số lượng doanh nghiệp SIB được thành lập trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến nay (khoảng 40%) và bùng nổ vào năm 2016 với 14%. Tuy nhiên, năm 2017, số lượng doanh nghiệp SIB đã giảm xuống do không đáp ứng được kỳ vọng bởi không có những chính sách hỗ trợ cụ thể cho khu vực SIB.

Về quy mô, hầu hết các doanh nghiệp SIB có quy mô nhỏ và siêu nhỏ cả về nhân lực và doanh thu. Các SIB có dưới 20 nhân viên chiếm tới 70%. 72% khu vực SIB có quy mô doanh thu siêu nhỏ (dưới 3 tỷ đồng, tương đương 150.000USD/năm). 28 % còn lại thuộc nhóm quy mô nhỏ (dưới 10 tỷ đồng – 400.000USD/năm). Mặc dù quy mô nhỏ nhưng có tính hòa  nhập khá cao. Khu vực này gồm nhiều tầng lớp xã hội hội tham gia với 74% công nhân thuộc nhóm người yếu thế. Trong đó, 28% SIB sử dụng trên 51% lao động đến từ nhóm này bao gồm người khuyết tật, người dân tộc thiểu số và người nghèo. Ngoài ra, các SIB chủ yếu sử dụng lao động địa phương (90%), trong đó, 53% số lượng SIB sử dụng trên 51% là người lao động tại địa phương. Những doanh nghiệp SIB cũng rất đa dạng trong ban lãnh đạo, thể hiện qua việc có nhiều người và phụ nữ thuộc các nhóm yếu thế tham gia vào quá trình thành lập và hoạt động của các SIB. Tỷ lệ nhà khởi nghiệp xã hội là phụ nữ cao hơn nhiều so với con số 25%(1) khu vực doanh nghiệp nói chung tại Việt Nam.  

Các SIB Việt Nam ưu tiên theo đuổi 05 mục tiêu chính, đứng đầu là nâng cao chất lượng cuộc sống với 50% doanh nghiệp SIB có mục tiêu này. Tiếp theo lần lượt là tạo việc làm (46,7%); bảo vệ môi trường (32%); thúc đẩy giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ người học (30%) và hỗ trợ phát triển nông nghiệp (24%). Theo kết quả khảo sát về các lĩnh vực mà các SIB gắn với các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs)(2) của Liên Hợp Quốc cho thấy, khu vực SIB Việt Nam tập trung giải quyết các vấn đề xã hội nhiều hơn so với các vấn đề về môi trường. Trên thực tế, khu vực SIB hoạt động theo hai ngành nghề chính là nông nghiệp, ngư nghiệp và thực phẩm (31,7%) và giáo dục – đào tạo (29,7%), lĩnh vực môi trường chỉ chiếm 8,6%. Do đó, các SDG hàng đầu mà khu vực SIB có thể đóng góp nhiều nhất là các mục tiêu về xã hội, bao gồm: SDG8: Tạo việc làm, tăng trưởng kinh tế; SDG3: Sức khỏe, chất lượng cuộc sống; SDG1: Xóa đói, giảm nghèo và SDG10: Giảm bất bình đẳng.

Doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam đang tiếp tục được phát triển, mở rộng, dần được xã hội công nhận và tôn vinh. Tuy nhiên, các SIB hiện cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, như thiếu vốn và yếu kém trong khả năng tiếp cận các nguồn tài chính; yếu về năng lực quản lý điều hành; thiếu hụt những dịch vụ hỗ trợ và nâng cao năng lực phù hợp; truyền thông và thương hiệu chưa phát triển. Do đó, để khu vực SIB có cơ hội phát triển và đóng góp nhiều hơn với các mục tiêu xã hội và môi trường, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp như xây dựng, hoàn thiện khung chính sách về hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn, hỗ trợ phát triển thị trường và mở rộng quy mô, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của khu vực SIB.

  1. Thông tấn xã Việt Nam, ‘Việt Nam Có Tỷ Lệ Nữ Lãnh Đạo Doanh Nghiệp Vượt Xa Mức Chung Của Châu Á’, thoibaotaichinhvietnam.vn, 2017, http:// thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2017-12-18/viet-nam-co-ty-lenu-lanh-dao-doanh-nghiep-vuot-xa-muc-chung-cua-chau-a-51669.aspx
  2. Các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), còn được gọi là Mục tiêu Toàn cầu, được tất cả các Quốc gia Thành viên Liên Hợp Quốc thông qua vào năm 2015 trong Chương trình nghị sự 2030 nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bảo vệ hành tinh và đảm bảo mọi người dân được hưởng hòa bình và thịnh vượng vào năm 2030, bao gồm 17 mục tiêu và 169 chỉ tiêu cụ thể.

Tài liệu tham khảo

  1. Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014
  2. TS. Nguyễn Đình Cung và cộng sự, 2016, Điển hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.
  3. PGS. TS. Trương Thị Nam Thắng và cộng sự, 2018, Thúc đẩy phát triểm khu vực doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam.
Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202