Tin Kinh tế- xã hội  > Doanh nghiệp

Những yếu tố tác động tới đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp

Cập nhật lúc: 24/12/2019 09:19:00 AM

1. Nhóm các yếu tố bên ngoài

Nhóm các yếu tố bên ngoài là các nhân tố tác động đến môi trường để doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo (ĐMST). Romijn & Albaladejo (2002) đã chỉ ra các nhân tố bên ngoài bao gồm: Mức độ chặt chẽ của mối liên kết với các thành viên trong chuỗi giá trị; Mức độ gần cận về địa lý giữa các thành viên; Sự hỗ trợ về thể chế. Nguyễn Quốc Duy (2015) cũng chỉ ra các yếu tố tác động đến đổi mới sáng tạo từ bên ngoài là mối quan hệ liên kết, nghiên cứu phát triển và tiến bộ công nghệ; mối quan hệ với hiệp hội chuyên gia; và chính sách hỗ trợ đổi mới. Tổng kết lại, các nhân tố bên ngoài tác động đến ĐMST bao gồm yếu tố về thể chế, yếu tố về liên kết và đặc điểm riêng có của ngành. 

a. Các yếu tố thể chế 

Với nhận thức rằng đổi mới sáng tạo là nguồn động lực chi phối tăng trưởng, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng cho mình các chính sách thúc đẩy đổi mới tăng trưởng. Các nước đều hiểu rằng các thị trường chỉ dựa vào các tín hiệu về giá cả sẽ không phải là luôn đạt được hiệu quả như  trong trường hợp có sự hợp tác công - tư thông minh để thúc đẩy năng suất và đổi mới mạnh hơn. Các chính phủ có thể và cần phải đóng một vai trò có tính xây dựng trong việc giúp khu vực tư nhân cạnh tranh. Vì vậy họ coi việc thúc đẩy đổi mới là trọng tâm trong các chiến lược cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế của nước mình. Sau cùng, các chính sách đổi mới của các nước nhằm mục tiêu vào việc liên kết khoa học, công nghệ và đổi mới với tăng trưởng kinh tế và việc làm, vạch ra một kế hoạch có hiệu quả để các thành phần tham gia có thể cạnh tranh và có lợi trong hoạt động kinh tế dựa trên cơ sở đổi mới sáng tạo.Một chính sách đổi mới hiệu quả cần chú trọng vào việc tận dụng triệt để hệ sinh thái đổi mới toàn cầu bằng cách đảm bảo rằng, đổi mới được truyền bá đến tất cả các ngành kinh tế và tổ chức và bằng việc tạo điều kiện cho những đổi mới ở mô hình kinh doanh mới để có thể tham gia và cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu.Việc thiết kế một chính sách đổi mới thích hợp đòi hỏi các nước phải làm chủ được ba thành phần trong hệ sinh thái đổi mới, đó là môi trường kinh doanh (Business Environment), môi trường luật pháp (Regulatory Environment), và môi trường chính sách đổi mới (Innovation Policy Environment). Trong đó, môi trường chính sách đổi mới đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện đổi mới. Các chính sách này bao gồm hỗ trợ nghiên cứu công nghệ, hỗ trợ thương mại hóa công nghệ, hỗ trợ cơ sở hạ tầng công nghệ số (như các mạng thông minh, băng thông rộng, IT y tế, hệ thống giao thông vận tải thông minh, chính phủ điện tử, ... ); hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, để thúc đẩy hiện đại hóa và tăng năng suất lao động; đẩy mạnh giáo dục và nâng cao kỹ năng có hiệu quả, đặc biệt là các kỹ năng về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), thu hút người nhập cư có kỹ năng cao. Chính sách đổi mới nhận thức được rằng để khu vực tư nhân có thể cần dẫn đầu hoạt động đổi mới, trong một thời đại đổi mới toàn cầu hóa và các thị trường cạnh tranh quyết liệt, các chính phủ có thể và cần đóng một vai trò tạo năng lực quan trọng trong việc hỗ trợ cho các nỗ lực đổi mới của khu vực tư nhân. Nhà kinh tế học Dani Rodrik đã vẽ một bức tranh về mối quan hệ tương thích giữa chính phủ và các doanh nghiệp liên quan đến chính sách đổi mới khi ông mô tả "một quy trình tương tác về sự hợp tác chiến lược giữa các khu vực nhà nước và tư nhân, mối quan hệ này một mặt được coi như nguồn thông tin gợi mở về các cơ hội cũng các rào cản kinh doanh, và mặt khác nó tạo nên các xúc tiến chính sách để phản ứng". Báo cáo năm 2009 của Hội đồng kinh tế quốc gia Mỹ mang tên Chiến lược đổi mới sáng tạo Mỹ nhận định rằng: "Sự lựa chọn đúng đắn trong đổi mới không phải là giữa việc có thuộc về chính phủ hay không, mà là về hình thức thích hợp về sự tham gia của chính phủ vào việc hỗ trợ cho đổi mới. Một cách tiếp cận hiện đại, thực tế công nhận cả sự cần thiết phải hỗ trợ cơ bản và cả mối nguy của sự can thiệp quá tích cực của chính phủ".

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới. KHCN và ĐMST đã và đang là vấn đề ngày càng được nhiều sự quan tâm của Chính phủ trong việc định hướng phát triển và các chính sách tạo điều kiện phát triển thị trường KHCN. Chính phủ đã ra Quyết định số 2075/QĐ-TTg năm 2013 về chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 với mục tiêu nhằm tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường hằng năm bình quân không dưới 15%, riêng đối với công nghệ cao được ưu tiên đầu tư thì tăng không dưới 20%/năm. Định hướng đến năm 2020 sẽ thiết lập một mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ, trọng tâm là thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Chương trình định hướng hoàn thiện môi trường pháp lý, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về thị trường KH&CN, đồng thời thúc đẩy hoạt động dịch vụ thị trường KH&CN cũng như thúc đẩy nhu cầu công nghệ và nâng cao năng lực chuyển giao công nghệ. Từ năm 2016, Chính phủ đã thể hiện quyết tâm cao nhất về định hướng phát triển thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo thông qua Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” do Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18-5-2016. Phong trào khởi nghiệp tại Việt Nam được khơi dậy rầm rộ như bây giờ với sự vào cuộc của hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương.

Tuy nhiên, trải qua vài năm hình thành và hoàn thiện, hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam đã phát triển và tiến bộ nhưng vẫn còn thiếu dẫn dắt. Có hai vấn đề lớn trong các chính sách của Việt Nam, đó là chỉ tập trung vào R&D chứ không phải đổi mới sáng tạo và các công cụ chính sách quá nghèo nàn, chủ yếu chỉ là tài trợ tiền và ưu đãi về thuế. Các chính sách nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và hỗ trợ khởi nghiệp chiếm chưa đầy 1% trong giá trị danh mục chính sách năm 2017.Sự “thiên kiến” trong chính sách của Việt Nam hiện nay đã dẫn đến việc các đối tượng thụ hưởng rơi vào các doanh nghiệp lớn, trong đó chủ yếu là các tập đoàn đa quốc gia, chứ không phải là các doanh nghiệp SMEs – động lực đổi mới sáng tạo của nền kinh tế, theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới. Do đó, chính sách của Chính phủ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp Việt nam. Các chính sách của Chính phủ có thể hướng đến các giải pháp về ưu đãi tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ triển khai đổi mới sáng tạo, hỗ trợ có mục tiêu cho các dự án kết hợp giữa các viện nghiên cứu và doanh nghiệp, tăng cường chính sách hỗ trợ để thúc đẩy các dịch vụ tư vấn doanh nghiệp (như cố vấn, huấn luyện viên khởi nghiệp, kết nối với các đối tác, nhà đầu tư) và cải cách hành chính để tạo ra môi trường cho những doanh nghiệp với những ý tưởng, mô hình kinh doanh mới phát triển. Chính sách của Chính phủ cần tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, một tư duy quản lý cởi mở, tạo điều kiện cho các công nghệ mới, đột phá tồn tại được trên thị trường. Hiện tại, hệ thống VBQPPL của Việt Nam chưa đủ để có thể quy định được với các loại sản phẩm công nghệ mới dẫn đến tình trạng lúng túng, thiếu khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo.Điều đáng nói là, nhiều chính sách thiếu nhạy bén, thiếu linh hoạt của Việt Nam không chỉ ngăn cản các công ty nội địa tạo ra những công nghệ, sản phẩm đột phá mà còn vô hình trung dọn đường cho các công ty nước ngoài vào chiếm lĩnh thị trường, đánh bật các công ty nội địa. Nếu chờ đến khi pháp luật cởi trói, cho phép những hình thức kinh doanh mới thì cũng là lúc các doanh nghiệp Việt không còn thị trường để khai thác.

b. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và trường đại học, trung tâm nghiên cứu

Đổi mới là động cơ tăng trưởng kinh tế, bất luận là quốc gia phát triển chủ yếu hay là công ty đa quốc gia đều coi đổi mới là chiến lược trung tâm của sự phát triển. Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và trung tâm nghiên cứu về khoa học công nghệ có thể thực hiện bổ sung lợi thế cho nhau, chia sẻ nguồn lực, phân tán mạo hiểm và nâng cao hiệu quả R&D, nên đã trở thành sự lựa chọn phổ biến tiến hành đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp các nước.Hợp táclà các chủ thể đổi mới công nghệ này là doanh nghiệp và viện nghiên cứu theo nguyên tắc “chia sẻ lợi ích, chia sẻ rủi ro, bổ sung lợi thế cho nhau, cùng phát triển”, cùng triển khai hoạt động đổi mới công nghệ, từng bước thực hiện chu kỳ tốt nghiên cứu khoa học-sản phẩm-thị trường-nghiên cứu khoa học. Sự kết hợp này là sản phẩm tất nhiên của kết hợp kinh tế thị trường và kinh tế tri thức, là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống đổi mới quốc gia. 

Sự liên kết này là hoạt động hợp tác kinh tế như nghiên cứu khoa học, sản xuất, tiếp thị, dịch vụ tư vấn được tiến hành bởi 3 bên hoặc 2 bên doanh nghiệp (công nghiệp), trường đại học (đại học), viện nghiên cứu khoa học (viện nghiên cứu) tổ chức liên kết nhu cầu thị trường với toàn bộ lợi ích chung với nhau theo cơ chế kinh tế thị trường, sử dụng nhiều phương thức và phương pháp. Cơ sở của hợp tác là mỗi bên làm việc mình cần, bổ sung lợi thế cho nhau, phát huy đầy đủ lợi thế nguồn lực tổ chức của các bên, thu được hiện ứng hài hoà trong quá trình hợp tác.

Tăng cường liên kếtgiữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và trường đại học, trung tâm nghiên cứu là con đường quan trọng thực hiện chuyển hoá KH&CN thành lực lượng sản xuất, cũng là biện pháp có hiệu quả bố trí tối ưu hoá nguồn lực KH&CN, nguồn lực kinh tế và các yếu tố lực lượng sản xuất, tích hợp KH&CN và kết cấu hệ thống kinh tế quốc gia. 

Năng lực đổi mới của quốc gia chủ yếu thể hiện trong nâng cao năng lực đổi mới của quốc gia và nâng cao hiệu quả đổi mới, tiếp đó là nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Các yếu tố trung tâm của nó bao gồm doanh nghiệp, cơ quan giáo dục và đào tạo, cơ quan nghiên cứu và cơ quan liên quan khác, trong đó giữa các yếu tố hình thành quan hệ tương tác. Phát triển doanh nghiệp định hướng phương hướng nghiên cứu trong hợp tác các doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và trường đại học, trung tâm nghiên cứu, cho phép thành quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tế hơn; thành quả nghiên cứu trong hợp tác doanh nghiệp, trường đại học và trung tâm nghiên cứu thúc đẩy đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, tăng cường sức cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp.

Liên kết giữadoanh nghiệp, trường đại học và trung tâm nghiên cứu là con đường cơ bản thực hiện đổi mới quốc gia; là cơ sở thực hiện chiến lược chấn hưng đất nước bằng khoa học giáo dục; là con đường có hiệu quả thúc đẩy doanh nghiệp trở thành chủ thể đổi mới công nghệ; có lợi cho phát huy đầy đủ lợi thế tích hợp của doanh nghiệp, trường đại học và cơ quan nghiên cứu khoa học. Mối liên kết này trở thành con đường và hành động quan trọng tăng cường xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia, nâng cao năng lực đổi mới độc lập của quốc gia.

Tuy vậy, trên thực tế, tại Việt Nam, mối liên kết này còn rất hạn chế. Lượng cung trên thị trường ít, thiếu đa dạng và chủ yếu tập trung ở khu vực công lập. Các đơn đặt hàng còn ít. Nguyên nhân do chất lượng sản phẩm KHCN còn thấp, tính ứng dụng thấp không đáp ứng được nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp lại thiếu thông tin về sản phẩm và thiếu động lực đổi mới công nghệ để phát triển. Các hoạt động hỗ trợ thị trường KH&CN chưa được tổ chức tốt. Hệ thống thông tin và dịch vụ khoa học và công nghệ chưa làm tốt vai trò trung gian, thúc đẩy sự trao đổi thông tin giữa bên cung cấp công nghệ và bên có nhu cầu đổi mới công nghệ. Hệ thống quản lý, lưu giữ thông tin về kết quả khoa học và công nghệ hiện nay còn rất yếu, chưa có một hệ thống lưu trữ đầy đủ các sản phẩm khoa học và công nghệ, dẫn đến có nhiều đề tài, dự án đã được nghiên cứu nhưng doanh nghiệp hay người co nhu cầu sử dụng kết quả khoa học và công nghệ lại không biết thông tin để tìm đến người “cung cấp” sản phẩm khoa học và công nghệ. Hoạt động chuyển giao công nghệ theo chiều dọc (từ các cơ quan nghiên cứu, các viện, các trường chuyển giao cho các doanh nghiệp trên cơ sở hoàn thiện công nghệ mới) hiện nay còn ít, còn nhiều rào cản. Giá cả hàng hóa KHCN không theo cơ chế thị trường. Hầu như chưa có cơ chế định giá cho thị trường khoa học bởi phần lớn các sản phẩm này do Nhà Nước cấp kinh phí thực hiện theo chế độ giao trực tiếp. Điều này làm triệt tiêu sự cạnh tranh giữa những người bán, gián tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng hành hóa KH&CN cung ứng ra thị trường. Doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu năng lực tự nghiên cứu do sự thiếu về vốn đầu tư, quy mô doanh nghiệp nhỏ, nguồn nhân lực chất lượng còn hạn chế nhưng sự liên kết lỏng lẻo dẫn đến sự thiếu thốn các ý tưởng sáng tạo hoặc các sản phẩm công nghệ, cản trở quá trình đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Để có được ĐMSP, gần 85% các DN tự thực hiện để có được sản phẩm mới, gần 14% các DN đã phối hợp với cá nhân, đơn vị ngoài để thực hiện sản phẩm mới và chỉ có khoảng hơn 1% các DN thuê hoàn toàn cá nhân, tổ chức ngoài thực hiện để có được sản phẩm mới. Điều này thể hiện mức độ “đóng kín” của các DN trong hoạt động sáng tạo sản phẩm mới.

c. Đặc điểm ngành của doanh nghiệp

Doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề khác nhau thì yêu cầu đổi mới sáng tạo cũng khác biệt. Trong bối cảnh CMCN 4.0, tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực thì đổi mới sáng tạo càng trở nên mạnh mẽ. Những ngành nghề nào ứng dụng công nghệ sẽ tăng trưởng mạnh mẽ và vượt trội hơn so với các ngành khác, những ngành truyền thống không chịu thay đổi sẽ bị tụt hậu nhanh chóng. Các nhóm ngành đòi hỏi sự thay đổi nhanh chóng như công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ vật liệu nano, năng lượng, logistics, kỹ thuật y sinh… Bên cạnh các nhóm ngành công nghệ, nhóm ngành dịch vụ như du lịch, nhà hàng, khách sạn; nhóm ngành thiết kế sáng tạo; nhóm ngành dinh dưỡng và ẩm thực; nhóm ngành điện tử, cơ khí, tự động hóa; nhóm ngành quản lý, quản trị, nhóm ngành công nghệ chế biến… là những ngành mà robot, máy móc không thể thay thế con người hoàn toàn, là công cụ bổ trợ hiệu quả hơn. Đối với nhiều ngành nghề có nguy cơ bị xóa bỏ do bị thay thế bằng công nghệ lại càng đòi hỏi sự đổi mới sáng tạo để phù hợp với xu thế mới. 

2. Các yếu tố bên trong

Romijn & Albaladejo (2002) phát hiện năng lực đổi mới sáng tạo của các công ty được đo lường chủ yếu dựa trên năng lực đổi mới sáng tạo sản phẩm. Các nhân tố ảnh hưởng  bên trong bao gồm: Trình độ đào tạo và kinh nghiệm của người quản lý; Kỹ năng của đội ngũ nhân viên; Mức chi cho hoạt động R&D và đào tạo. Nguyễn Quốc Duy (2015) khi tổng kết cơ sở lý thuyết về đổi mới sáng tạo và các nhân tố tác động đã chỉ ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp bao gồm các nhân tố ảnh hưởng bên trong là các thuộc tính chung của công ty; các nhân tố thuộc về chiến lược cấp công ty và kiểm soát các hoạt động; các nhân tố thuộc về tổ chức, văn hóa và lãnh đạo; các nhân tố thuộc về nguồn lực và chiến lược chức năng. Wan & cộng sự (2005) đã sử dụng một thước đo tổng hợp bao gồm cả các yếu tố đầu vào (các yếu tố tác động) và yếu tố đầu ra (kết quả đổi mới sáng tạo) để đo năng lực đổi mới sáng tạo của các công ty. Kết quả cho thấy: Mức độ trao quyền trong việc ra quyết định, các nguồn lực dành cho hoạt động đổi mới sáng tạo, mức độ chấp nhận rủi ro, sự sẵn sàng chia sẻ tri thức và ý tưởng mới đều có tác động mạnh đến năng lực đổi mới sáng tạo của các công ty.Darroch (2005) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị tri thức, đổi mới sáng tạo và kết quả kinh doanh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy quản trị tri thức có tác động dương đến đổi mới sáng tạo và kết quả kinh doanh. Kết luận rút ra từ nghiên cứu này là công ty có năng lực quản trị tri thức tốt hơn sẽ sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, khả năng đổi mới sáng tạo cũng cao hơn và kết quả kinh doanh tốt hơn.Schulze & Hoegl (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các phương thức sáng tạo tri thức với việc đề xuất các ý tưởng đổi mới sản phẩm. Kết quả cho thấy hai phương thức sáng tạo ra tri thức là xã hội hoá tri thức và cá nhân hoá tri thức đóng vai trò quan trọng trong tạo ra ý tưởng sản phẩm mới, còn tổng hợp hoá tri thức và tiêu chuẩn hoá tri thức thì ngược lại. Theo đó, một số yếu tố bên trong ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp bao gồm 4 nhân tố:

a. Chiến lược và đổi mới sáng tạo

Theo Smith và cộng sự (2008), chiến lược sẽ tác động đổi mới sáng tạo thông qua biến trung gian là nhân viên của tổ chức. Chiến lược vạch ra các khía cạnh khác nhau và cách các khía cạnh này ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo. Hơn nữa, chiến lược bao gồm 4 khía cạnh: chiến lược tổ chức, chiến lược đổi mới, tầm nhìn và mục tiêu của tổ chức, và chiến lược ra quyết định. Chiến lược của công ty cần được nâng tầm để phản ánh văn hóa tổ chức và liên kết tầm nhìn chung và mục tiêu của tổ chức. Điều quan trọng là tất cả nhân viên của tổ chức phải hiểu chiến lược công ty để có thể hỗ trợ đạt được các mục tiêu.Nghiên cứu của Kenneth và cộng sự (2015) đã xác định một chiến lược đổi mới rõ ràng đóng vai trò ảnh hưởng quan trọng đến năng lực đổi mới sáng tạo. Theo Lawson (2001), mối liên hệ giữa tầm nhìn, chiến lược và đổi mới sáng tạo là quan trọng để quản lý đổi mới sáng tạo hiệu quả. Chiến lược xác định phân bổ nguồn lực, sản phẩm, quá trình và hệ thống giúp doanh nghiệp thích nghi với sự bất định của môi trường kinh doanh. Sự thành công của đổi mới sáng tạo đòi hỏi tầm nhìn rõ ràng và sự nhấn mạnh vào định hướng chiến lược thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Chiến lược đổi mới sáng tạo gồm một kế hoạch hành động chi tiết hoàn thành các mục tiêu đổi mới sáng tạo (Johnston và Bate, 2007) và là một yếu tố quan trọng cho sự đổi mới sáng tạo hành công (Pane et al., 2003). Một chiến lược đổi mới sáng tạo được hoạch định tốt sẽ được tích hợp với chiến lược kinh doanh để đảm bảo cả hai chiến lược đều có chung một tầm nhìn và sứ mệnh chung (Wong, 2005). Theo Kowang (2015), chiến lược đổi mới bao gồm kết hợp chiến lược, truyền thông chiến lược và cam kết từ lãnh đạo cấp cao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả đổi mới sáng tạo. Như vậy, chiến lược tác động tích cực tới đổi mới sáng tạo.

Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố công nghệ và đổi mới sáng tạo đến phát triển của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp chưa có hoặc chưa xây dựng một chiến lược đổi mới sáng tạo cho riêng doanh nghiệp mình. Có nhiều nguyên nhân mà trước nhất đó là việc doanh nghiệp cho rằng đổi mới công nghệ cần đầu tư và tốn kém. Doanh nghiệp chưa nhận thấy có nhu cầu đổi mới sáng tạo là nguyên nhân thứ hai. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như  ngành sản xuất chủ yếu theo phương pháp truyền thống nên nhu cầu ứng dụng công nghệ không cao, ngoài ra, một số DN khác có quy mô còn nhỏ, mới khởi nghiệp nên chưa có định hướng về ĐMCN. Chính vì chưa định hướng được và chưa xây dựng chiến lược cụ thể, một lộ trình đổi mới sáng tạo nên việc thực hiện đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp Việt Nam không có kế hoạch, không có lộ trình, không được thúc đẩy diễn ra. 

b. Sự ủng hộ của lãnh đạo với đổi mới sáng tạo và chia sẻ tri thức

Quản lý cấp cao đóng một vai trò thiết yếu trong việc tạo ra các đổi mới sáng tạo bằng cách cung cấp môi trường thích hợp và đưa ra các quyết định nhằm nâng cao sự sáng tạo và vận dụng kiến thức thành công (Van de Ven, 1993; Storey, 2000; Aragón -Correa và cộng sự, 2007). Quản lý cấp cao thường cho thấy nhận thức sâu sắc về nhu cầu của nhân viên và cung cấp động lực, đó là một nguồn động viên họ đổi mới sáng tạo và giải quyết vấn đề. Quản lý cấp cao giúp nhân viên giải quyết các nhu cầu của họ về trao quyền, nâng cao phẩm chất cá nhân, đạt thành tích và nâng cao tính tự hiệu quả (Jung và cộng sự, 2003; Ryan và Tipu, 2013; Abrell và cộng sự, 2011; Taylor và cộng sự , 2009). Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng quản lý cấp cao đóng một vai trò quan trọng trong kết quả tổ chức (Cho và Hambrick, 2006; Kor, 2003; Stam và Elfring, 2008; Smith và Tushman, 2005; Wu, và cộng sự, 2005; Oke và cộng sự , 2009; Chahine và Goergen, 2013; Agbim và cộng sự, 2013). Nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng hỗ trợ quản lý hàng đầu đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến các hoạt động đổi mới trong tổ chức (Jung và cộng sự 2003; Elenko và cộng sự, 2005; Makri và Scandura, 2010; Denti, 2012; Kim, và cộng sự, 2012; Hoàng, và cộng sự, 2009; Al-Refaie và cộng sự, 2011; Ryan và Tipu, 2013). Theo Shaar và các cộng sự (2015), sự ủng hộ từ lãnh đạo cấp cao đóng vai trò quan trọng đẩy mạnh quá trình đổi mới sáng tạo, cho phép tổ chức thích nghi với những thay đổi nhanh chóng và bảo vệ mình trước môi trường bất định.

Sự ủng hộ của quản lý cấp cao được coi là một trong những ảnh hưởng tiềm năng quan trọng đối với tri thức tổ chức (Connelly và Kelloway, 2003). Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy sự ủng hộ của quản lý cấp cao là cần thiết để tạo ra một môi trường hỗ trợ và cung cấp đủ nguồn lực (Lin, 2006). MacNeil (2004) nhấn mạnh tầm quan trọng từ ủng hộ của quản lý cấp cao đối với môi trường chia sẻ tri thức tổ chức. Hơn nữa, Lin và Lee (2004) đề xuất rằng nhận thức về sự khuyến khích từ quản lý cấp cao với ý định chia sẻ tri thức là cần thiết nhằm tạo ra và duy trì văn hóa chia sẻ tri thức tích cực cho tổ chức. Do đó, nghiên cứu của Lin (2007) chỉ ra sự hỗ trợ của quản lý cấp cao sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự sẵn lòng chia sẻ kiến thức với các đồng nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhận thức về khuyến khích từ quản lý cấp cao với chia sẻ tri thức sẽ ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chia sẻ kiến thức của nhân viên. Do đó, quản lý nên nhận ra rằng phần thưởng tổ chức chỉ đảm bảo tuân thủ tạm thời. Để thúc đẩy hoạt động chia sẻ kiến thức, việc tạo điều kiện cho văn hóa tương tác xã hội quan trọng hơn đối với quản lý cấp cao.

Quản lý doanh nghiệp có tác động rất lớn đến định hướng phát triển doanh nghiệp và đưa ra quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Theo đó, tư duy của người quản lý có hướng đến đổi mới hay không sẽ quyết định đến việc doanh nghiệp thực hiện đổi mới. Do đó, các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng chấp nhận rủi ro cũng như khả năng phán đoán của chủ doanh nghiệp như độ tuổi, giới tính, trình độ giáo dục sẽ có ảnh hưởng đến quyết định đổi mới của doanh nghiệp. Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Đức Anh (2018), nếu như độ tuổi của chủ doanh nghiệp Việt Nam tăng thêm 1 tuổi thì khả năng đổi mới của doanh nghiệp giảm 0,3% do tuổi càng lớn, khả năng chấp nhận rủi ro của chủ doanh nghiệp ngày càng giảm đi. Thực trạng này là do nhiều nguyên nhân trong đó có nhận thức của chủ doanh nghiệp. Thuật ngữ đổi mới sáng tạo mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam và lần đầu tiên được đưa ra trong Luật Khoa học Công nghệ năm 2013, có hiệu lực từ năm 2014. Chính vì vậy, số lượng các doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo còn ít. Cũng do nhận thức của chủ doanh nghiệp về đổi mới sáng tạo chưa đầy đủ, nhiều chủ doanh nghiệp chưa thấy được tác dụng, ý nghĩa cũng như sự cần thiết phải thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nên hoạt động đổi mới sáng tạo chưa quyết liệt, mạnh mẽ.

c. Nguồn lực tài chính và đổi mới sáng tạo

Theo các nghiên cứu của Delbecq & Mills (1985); Wong (2005); Cooper & Kleinschmidt (2007) chỉ ra rằng thiếu các nguồn lực đổi mới sáng tạo sẽ hạn chế thành công của đổi mới sáng tạo. Nguồn lực nói chung và nguồn tài chính nói riêng tác động lớn đến quá trình đổi mới sáng tạo thông qua yếu tố con người (nhân viên) theo Smith (2008). Nguồn tài chính của tổ chức cấu thành bản chất của các hoạt động đổi mới sáng tạo (Metrick &Yasuda, 2011). Như vậy, tài chính tác động tích cực tới đổi mới sáng tạo.

Triguero và Corcoles (2013), Segarra và Teruel (2014) đều cho rằng quy mô của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển công suất hoạt động của doanh nghiệp, kể từ đó doanh nghiệp có thể sáng tạo và phát triển. Quy mô doanh nghiệp càng lớn thì càng có tác động tích cực đến ĐMST. Doanh nghiệp có quy mô lớn hơn về doanh thu và lao động có nhiều khả năng thực hiện ĐMST. Việc thực hiện ĐMST đòi hỏi đầu tư về tài chính, máy móc và con người nên chỉ các doanh nghiệp có đủ tiềm lực với thực hiện được. Tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp Việt hiện nay đến 98% là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, quy mô vốn và khả năng huy động tài chính thấp thì rất khó tính đến vấn đề đầu tư vào KHCN. 

Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Đức Anh (2018), khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp có tác động tích cực tới khả năng đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp. Kết quả định lượng cho thấy hệ số ước lượng của biến khả năng tiếp cận tín dụng có giá trị dương và có ý nghĩa thống kê. Do đó, nếu doanh nghiệp có khả năng tiếp cận tín dụng thì sẽ tạo ra 3,1% khả năng đổi mới của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quy mô lao động cũng có tác động tích cực đến khả năng đổi mới của doanh nghiệp, quy mô lao động càng lớn có thể dẫn đến 20,6% khả năng thực hiện đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý ở Việt Nam là doanh nghiệp có quy mô tài sản càng lớn thì lại làm giảm khả năng đổi mới của doanh nghiệp, cụ thể là nếu tăng thêm 1% về quy mô tài sản của doanh nghiệp sẽ làm giảm 8,8% khả năng đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. 

d. Năng lực hấp thụ và đổi mới sáng tạo

Cohen và Levinthal (1990) đề xuất rằng tận dụng tri thức bên ngoài thu thập bởi tổ chức là yếu tố quyết định chính của năng lực đổi mới. Năng lực hấp thụ là khả năng thu nhận, đồng hóa, biến đổi và khai thác kiến thức có thể xác định mức độ đổi mới sáng tạo và năng lực của tổ chức (Cohen & Levinthal, 1990; Daghfous, 2004; Fichman, 2004; Vinding, 2006). Cohen và Levinthal (1990) và Daghfous (2004) đã chỉ ra rằng năng lực hấp thụ của một công ty có lợi cho học tập tổ chức và các hoạt động R & D. Schilling (1998) khẳng định rằng thông qua năng lực hấp thụ, các công ty mở rộng tri thức và cơ sở kỹ năng, cải thiện khả năng đồng hóa, tận dụng thông tin trong tương lai và cuối cùng nâng cao hiệu quả phát triển công nghệ. Năng lực hấp thụ cho phép các công ty có được hiệu quả và sử dụng tri thức bên ngoài cũng như nội bộ có ảnh hưởng đến khả năng đổi mới sáng tạo của họ (Daghfous, 2004). Do đó, khi công ty có năng lực hấp thụ lớn hơn, nó sẽ làm tăng hiệu quả đổi mới sáng tạo. Cohen và Levinthal (1990) lập luận rằng năng lực hấp thụ của một công ty là rất quan trọng đối với năng lực đổi mới sáng tạo của nó. Bởi vì năng lực hấp thụ có thể xác định khả năng thích ứng của tổ chức (Cohen & Levinthal, 1990; Daghfous, 2004), nghiên cứu này cho rằng khả năng hấp thụ có thể ảnh hưởng đến hiệu quả đổi mới sáng tạo một cách tích cực. Do đó, năng lực hấp thụ của các công ty có thể ảnh hưởng đến hiệu quả các hoạt động đổi mới sáng tạo (Cockburn & Henderson, 1998).

Zahra và George (2002) xem xét các nghiên cứu trước đây liên quan đến năng lực hấp thụ, tìm ra mối quan hệ thuận chiều đáng kể giữa năng lực hấp thụ và đổi mới sáng tạo, vì các yếu tố này kết hợp cùng nhau sẽ thiết lập lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Nghiên cứu thực nghiệm của Knudsen và Roman (2004) cũng cho thấy rằng, năng lực hấp thụ là một yếu tố quan trọng trong dự đoán năng lực đổi mới sáng tạo của một tổ chức. Mặt khác, Caloghirou và cộng sự (2004) điều tra mức độ năng lực nội bộ hiện tại của các công ty và tương tác của họ với nguồn tri thức bên ngoài ảnh hưởng đến mức độ đổi mới sáng tạo của họ. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số năng lực là kết quả của quá trình tích lũy tri thức và đầu tư kéo dài trong các doanh nghiệp và hình thành dựa vào năng lực hấp thụ của các doanh nghiệp. Nieto và Quevedo (2005) phân tích ảnh hưởng của 3 biến liên quan đến cơ cấu công nghiệp (năng lực hấp thụ, cơ hội công nghệ, và tràn lan tri thức) lên nỗ lực đổi mới sáng tạo do các công ty phát triển. Những mối quan hệ này được điều tra trên tổng số 406 công ty sản xuất Tây Ban Nha và kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng biến năng lực hấp thụ tác động đến nỗ lực đổi mới sáng tạo lớn hơn so với hai biến cấu trúc. Theo Liao (2006), năng lực hấp thụ là nhân tố tác động quan trọng đến năng lực đổi mới sáng tạo và thành công của hoạt động đổi mới sáng tạo trong tổ chức. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Chen và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng, mối quan hệ tích cực giữa năng lực hấp thụ lên hiệu quả đổi mới sáng tạo, do đó đầu tư nhiều hơn vào năng lực hấp thụ đồng nghĩa với hiệu quả đổi mới sáng tạo cao hơn. 

Như vậy, năng lực hấp thụ ở đây có thể hiểu là các yếu tố như năng lực của người lao động trong doanh nghiệp, điều kiện cơ sở vật chất của doanh nghiệp, khả năng thích ứng của doanh nghiệp hay khả năng học hỏi của doanh nghiệp dựa trên nền tảng tri thức của lãnh đạo và người lao động trong doanh nghiệp trước những thay đổi của công nghệ. Thực tế, doanh nghiệp Việt Nam có tới 98% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có khả năng thích ứng rất nhanh với những thay đổi của thị trường. Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng để có thể chiếm hữu một chỗ trên thị trường, doanh nghiệp vừa và nhỏ phải sử dụng đầy đủ đặc điểm linh hoạt của bản thân mình, dám sử dụng và thử nghiệm công nghệ mới và dám triển khai hoạt động ĐMCN trong lĩnh vực nào đó, do đó trở thành lực lượng quan trọng ứng dụng rộng rãi công nghệ mới và ĐMCN. Như vậy, nếu để doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể học hỏi công nghệ thay vì phải tự nghiên cứu thì năng lực hấp thụ của doanh nghiệp Việt Nam không yếu, có thể thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhanh hơn. Một điểm nữa là doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu nguồn nhân lực có trình độ để hấp thụ được công nghệ nên đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ trong việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam.
 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202