Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

Công cuộc xóa đói giảm nghèo và vai trò của tầng lớp trung lưu

Cập nhật lúc: 26/12/2019 09:00:00 AM

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Đạt được kết quả này là nhờ thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng, các giải pháp toàn diện của Chính phủ và sự đóng góp của toàn xã hội, trong đó có vai trò quan trọng của tầng lớp trung lưu.

Các nỗ lực xóa đói, giảm nghèo đã có thêm động lực mới sau khi Chính phủ công bố “Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020” với nguồn ngân sách 41.449 tỷ đồng. Chính phủ cũng dành 44.214 tỷ đồng để thực hiện chính sách giảm nghèo thường xuyên, hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng. Các chương trình như xây dựng nông thôn mới, cho các hộ nghèo vay vốn để sinh kế... đã giúp phát triển hạ tầng ở các vùng quê, tạo điều kiện để người dân có việc làm, tăng thu nhập và từng bước có sinh kế bền vững. Thực hiện quan điểm phát triển của Đảng, ngày 6/1/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg, trong đó phát động Phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, nhằm nâng cao hiệu quả công cuộc xóa đói, nghèo và đảm bảo mọi người dân Việt Nam đều được hưởng thành quả của phát triển kinh tế của đất nước.

Tăng trưởng kinh tế cao được duy trì đã góp phần giúp các hộ gia đình tăng thu nhập. Số liệu Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam giai đoạn 2012-2016, cho thấy thu nhập bình quân đầu người đã tăng từ 2.380.000 đồng/tháng lên 2.911.000 đồng/tháng (tăng trung bình khoảng 5,16%/năm). Chi tiêu bình quân cũng tăng theo, từ 2.218.000 đồng/tháng lên 2.712.000 đồng/tháng trong cùng thời kỳ (tăng trung bình khoảng 5,15%/năm). Mức thu nhập và chi tiêu gia tăng trong giai đoạn này đã tạo tiền đề quan trọng cho việc giảm nghèo của các hộ gia đình. Kết quả xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam được ghi nhận trên tất cả các thước đo khác nhau, thể hiện ở chỗ tỷ lệ nghèo dù đo lường bằng thước đo nào cũng đều giảm trong giai đoạn 2012-2016 (1). Tỷ lệ nghèo theo chi tiêu, thu nhập và nghèo đa chiều giảm mạnh từ mức 18,1% năm 2012 xuống 10,9% năm 2016. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn 2016-2020 cũng giảm từ 15,9% năm 2012 xuống 9,1% năm 2016.

Tỷ lệ nghèo theo các thước đo khác nhau (%)

Nguồn: WB.

Tính đến hết năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm còn khoảng 5,35%. Bình quân tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm còn dưới 35%. Bình quân tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, vùng dân tộc và miền núi giảm khoảng 3-4% so với năm 2017.Chất lượng giảm nghèo cũng được cải thiện rõ rệt, với số người thoát nghèo có khuynh hướng không bị tái nghèo và giảm nghèo diễn ra trên mọi vùng, miền. Tại các vùng dân tộc, giảm nghèo đạt kết quả đáng ghi nhận với tỷ lệ nghèo của các nhóm dân tộc thiểu số giảm 1,4 điểm phần trăm giai đoạn 2012-2014 và hơn 13 điểm phần trăm trong giai đoạn 2014-2016. Tốc độ giảm nghèo của các dân tộc thiểu số trong khoảng thời gian 2014-2016 là mạnh nhất trong hai thập kỷ qua, đánh dấu lần đầu tiên giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số tác động đến tốc độ giảm nghèo chung của cả nước.Vùng trung duvà miền núi phía Bắc cũng như khu vực Tây Nguyên có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, lần lượt là 16,9 điểm phần trăm và 8,7 điểm phần trăm. Tỷ lệ nghèo cũng tiếp tục giảm tại những khu vực có tỷ lệ nghèo ở mức thấp. Trong giai đoạn 2014-2016, tỷ lệ nghèo trên cả nước đã giảm hơn một nửa (giảm 3 điểm phần trăm), trong đó, khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ gần như đã hoàn thành mục tiêu xóa nghèo và điều này đóng góp quan trọng cho việc giảm tỷ lệ nghèo trên cả nước.

Nghèo theo dân tộc giai đoạn 2010-2016 (%)

 

Nghèo theo vùng giai đoạn 2010-2016 (%)

Nguồn: WB.

Xét theo trình độ giáo dục và nghề nghiệp,tỷ lệ nghèo đa chiều của nhóm có chủ hộ tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học chỉ dưới 1%, trong khi đó, nhóm có chủ hộ chưa học xong tiểu học là 26,6% vào năm 2016. Bên cạnh đó, các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản cũng đã được cải thiện rõ rệt. Nhiều chỉ số thịnh vượng phi tiền tệ đã phản ánh rõ nét những tiến bộ của Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống. Hẩu như tất cả mọi nơi đều có điện; số hộ có ít nhất một điện thoại di động tăng từ 73% năm 2010 lên 93% năm 2016; khả năng tiếp cận vệ sinh được cải thiện từ 70% lên 83% và khả năng tiếp cận nguồn nước uống tốt được cải thiện, tăng từ 72% lên 78%. Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành công về giáo dục, tỷ lệ tốt nghiệp bậc THPT tăng từ 52% năm 2010 lên 59% năm 2016 và sẽ tiếp tục còn gia tăng.

Công cuộc xóa đói nghèo đạt được những thành tựu to lớn cũng là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu, vì tầng lớp này là “bến vươn tới” và là “điểm tựa”, “bệ đỡ” cho các tầng lớp có mức sống thấp hơn có thể dịch chuyển lên nấc thang xã hội cao hơn. Sự phát triển nhanh của tầng lớp trung lưu trong những năm gần đây với mức chi tiêu tối thiểu trên 15 USD/ngày/người đã tạo ra khát vọng vàđộng lực để các tầng lớp có mức sống thấp hơn nỗ lực phấn đấu vươn tới. Bên cạnh đó, do tầng lớp trung lưu có sự gần gũi và dễ cảm thông với các nhóm nghèo hơn trong xã hội, nên họ cũng là lực lượng đi tiên phong trong các nỗ lực xóa đói, giảm nghèo và hỗ trợ thiết thực cho tầng lớp nghèo và dễ bị tổn thương vươn lên cải thiện mức sống. Số liệu của WB cho thấy, đến năm 2016, 70% người dân Việt Nam đã được đảm bảo về mặt kinh tế, hơn 13% dân số thuộc tầng lớp trung lưu toàn cầu và số người dễ bị tổn thương về kinh tế cũng đã giảm từ 32% năm 2010 xuống còn 21,1% năm 2016 (2). Đáng chú ý, sự phát triển nhanh của tầng lớp trung lưu cũng đã kéo theo sự chuyển dịch việc làm từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác có mức thu nhập cao hơn, góp phần tạo “bệ đỡ” để một bộ phận đáng kể dân số từng làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp thoát nghèo và leo lên nấc thang xã hội cao hơn.Ngoài ra, cùng với sự gia tăng dân số trung lưu các doanh nghiệp gia đình và các hoạt động sản xuất, kinh doanh hộ gia đình xuất hiện ngày càng nhiều và điều này cũng đóng góp quan trọng vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam./.

  1. Tỷ lệ nghèo chi tiêu theo chuẩn nghèo chi tiêu của WB và Tổng cục Thống kê vào năm 2010 (năm phương pháp đo lường nghèo đói theo chi tiêu của 2 tổ chức này được điều chỉnh cập nhật) là 20,8%, còn vào năm 2014, tỷ lệ này là 13,5% (Nguồn:WB, 2018). Như vậy, trong giai đoạn 2010-2016, tỷ lệ nghèo theo chuẩn ngèo chi tiêu đã giảm khoảng 11 điểm phần trăm – một mức giảm ấn tượng trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều thách thức dẫn đến tăng trưởng kinh tế chậm lại.
  2.  Báo cáo “Bước tiến mới: Giảm nghèo thịnh vượng chung tại Việt Nam”, WB (2018)

Tài liệu tham khảo:

  1. WB (2018), Bước tiến mới giảm nghèo và thịnh vượng chung ở Việt Nam.
  2. Tổng cục Thống kê (2017), Niên giám Thống kê.
  3. Nguyễn Bích Lâm (2018), “NSLĐ của Việt Nam và giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng NSLĐ”, Tổng cục Thống kê
Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng (Ban Các vấn đề XH và MT)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202