Nghiên cứu > Hội thảo khoa học

Thông cáo báo chí Hội thảo quốc tế

Cập nhật lúc: 20/11/2019 10:49:24 PM

Hội thảo khoa học quốc tế “Triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Cơ hội và thách thức từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới“ do Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia tổ chức, với sự giúp đỡ của Đại sứ quán Ailen tại Việt Nam, với mục tiêu tổng kết lại những nét nổi bật của kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020, chia sẻ các dự báo cho giai đoạn 2021-2025, đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến một số chỉ tiêu vĩ mô quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể, có tính khách quan, khoa học hướng tới mục tiêu giúp kinh tế Việt Nam tận dụng tốt các cơ hội, vượt qua thách thức, hạn chế rủi ro, ổn định vĩ mô và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong trung và dài hạn.

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2016-2020 đã đi được gần hết chặng đường, dù còn khó khăn nhưng kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Tăng trưởng GDP phục hồi rõ nét sau giai đoạn 2011-2015, duy trì được tốc độ cao, đặc biệt là trong các năm 2017-2019 (với tốc độ tăng tương ứng đạt 6,81, 7,08% năm 2017, 2018 và khoảng 7,1% năm 2019[1]). Đây là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh kinh tế thế giới, thương mại toàn cầu và tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các khu vực, các nền kinh tế chậm lại. Tính chung giai đoạn 2016-2020, tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế khoảng 6,84%/năm (đạt mục tiêu 6,5-7% Kế hoạch 2016-2020 đã đề ra).

Nhìn từ phía cung, khu vực công nghiệp, xây dựng (CNXD) và khu vực dịch vụ là hai khu vực dẫn dắt tăng trưởng chung, bù đắp cho sự giảm sút của khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản, do đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là vào các năm 2016 và 2019[2]. Đóng góp của khu vực CNXD vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016-2020 đã tăng lên hơn 44% (so với mức tương ứng 39,9% giai đoạn 2011-2015). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CNCBCT) mặc dù có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại do sức cầu bên ngoài giảm sút nhưng vẫn có mức tăng khá, trung bình 12,8%/năm trong giai đoạn 2016-2019, đóng góp 32% vào tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế.

Từ phía cầu, tăng trưởng kinh tế cao nhờ tiêu dùng tăng cao hơn và thặng dư thương mại lớn hơn giai đoạn trước. Xuất khẩu duy trì tốc độ tăng trưởng khá, đặc biệt là ở một số thị trường đối tác CPTPP và thị trường Mỹ, trong bối cảnh thương mại quốc tế giảm sút, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn biến khó lường. Điều này cho thấy Việt Nam cũng đã tận dụng được hiệu quả từ các hiệp định thương mại và cơ hội từ diễn biến của kinh tế thế giới và hội nhập quốc tế. Đầu tư từ khu vực tư nhân trong nước tăng nhanh, cơ cấu đầu tư dịch chuyển theo hướng tích cực. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao và có sự dịch chuyển mạnh mẽ cả về hình thức, đối tác và lĩnh vực đầu tư.

Không chỉ được hỗ trợ bởi sự gia tăng về quy mô của các yếu tố sản xuất, tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020 còn được thúc đẩy bởi sự cải thiện của năng suất và hiệu quả. Năng suất lao động giai đoạn này tăng trung bình 5,8%/năm (so với mức tăng tương ứng 4,3%/năm của giai đoạn 2011-2015). Hiệu quả đầu tư cải thiện với hệ số ICOR trung bình 6,11 (so tương ứng với mức 6,25 của giai đoạn 2011-2015). Nền tảng kinh tế vĩ mô được củng cố với lạm phát ở mức thấp (dưới 4%), tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường, lãi suất ổn định, tăng trưởng tín dụng và cung tiền được kiểm soát chặt chẽ[3]. Cân đối tài khóa cải thiện[4]. Tỷ lệ nợ công và nợ chính phủ giảm nhanh theo chiều hướng vững chắc hơn[5]. Môi trường kinh doanh có sự cải thiện tích cực, góp phần thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển.

Tuy nhiên, nhìn chung mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 vẫn chưa có sự thay đổi rõ nét. Tăng trưởng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào vốn (tỷ lệ vốn đầu tư/GDP vẫn ở mức cao, trung bình 33,5%), đóng góp của nhân tố vốn trong tăng trưởng vẫn chiếm tỷ lệ lớn (trên 55%). Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch quá nhanh sang khu vực dịch vụ trong khi nền tảng công nghiệp còn yếu. Công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển, tính chất gia công còn lớn. Các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao đóng góp còn thấp, chi phí dịch vụ logistic còn cao. Xuất khẩu vẫn phụ thuộc và nhóm hàng do doanh nghiệp FDI dẫn dắt. Kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng hàm lượng nội địa trong xuất khẩu không tăng tương ứng. Các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là DNNVV chưa tham gia nhiều vào chuỗi giá trị toàn cầu. Năng lực đổi mới sáng tạo chưa được cải thiện nhiều và vẫn là điểm nghẽn trong phát triển kinh tế của Việt Nam khi CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. 

Bước vào giai đoạn 2021-2025, kinh tế Việt Nam được dự báo có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen. CMCN 4.0 lan rộng và việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho Việt Nam thông qua việc mở rộng xuất khẩu, đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ. Giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng kinh tế dự báo vẫn sẽ phụ thuộc vào khu vực CNXD và dịch vụ, trong đó quan trọng là hai nhóm ngành CNCBCT và ngành bán buôn, bán lẻ. Sự chuyển đổi nhanh hơn của mô hình tăng trưởng theo hướng năng suất, chất lượng và hiệu quả, với động lực chính là khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ giúp duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định cho nền kinh tế Việt Nam trong thời gia tới.

Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam trong trung hạn cũng sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, rủi ro và thách thức. Việt Nam tiếp tục chịu tác động tiêu cực do kinh tế toàn cầu giảm tốc khi bảo hộ thương mại và xung đột thương mại gia tăng. Hoạt động xuất khẩu và đầu tư đứng trước nhiều rủi ro. Trong nội tại nền kinh tế, các vấn đề mang tính cơ cấu như: mô hình tăng trưởng chưa thoát khỏi quán tính tăng trưởng theo chiều rộng; hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là hiệu quả đầu tư công chưa cao; khả năng cạnh tranh yếu; năng lực đổi mới sáng tạo thấp; v.v. tiếp tục là những cản trở cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

Về cơ hội và thách thức từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia cho thấy, việc tham gia ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định CPTPP và EVFTA sẽ tác động sâu, rộng tới nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025.

Cả CPTPP và EVFTA đều có lĩnh vực cam kết tương đối rộng so với các FTA khác, không chỉ nằm trong lĩnh vực trao đổi, xuất nhập khẩu mà còn liên quan đến cách thức sản xuất ra hàng hoá để trao đổi. Cả hai hiệp định nhìn chung đều có ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng, xuất khẩu, đặc biệt trong thị trường các nước nội khối. EVFTA dự báo sẽ có tác động lớn hơn CPTPP, do CPTPP đã có nhiều thành viên tham gia các hiệp định FTA khác với Việt Nam trước đó. Cụ thể, EVFTA và CPTPP có thể giúp GDP Việt Nam tăng thêm lần lượt 4,3% và 1,3% vào năm 2030. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU đến năm 2030 dự kiến sẽ tăng thêm khoảng 44,4%; xuất khẩu sang các nước trong CPTPP đến năm 2035 tăng 14,3%.

Ngoài ra, các hiệp định này cũng có tác động tích cực tới lao động, trong đó những ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày là những ngành dự báo sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Ngoài ra, tác động tích cực từ các hiệp định này còn có thể đến từ việc tạo sức ép cải thiện thế chế và môi trường kinh doanh, do đó kỳ vọng tạo ra những tác động tích cực trong trung và dài hạn.

Trên cơ sở đánh giá nền tảng kinh tế Việt Nam sau giai đoạn 2016-2020, xem xét các yếu tố trong và ngoài nước nhiều khả năng tác động đến nền kinh tế Việt Nam giai đoạn tới, đặc biệt là bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với nhiều cơ hội và thách thức từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia xây dựng hai kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2025. Theo đó, với nhiều khả năng xảy ra hơn, tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ đạt khoảng 7%/năm trong giai đoạn 2021-2025; kinh tế vĩ mô về cơ bản ổn định, lạm phát ở mức 3,5-4,5%/năm. Năng suất lao động cải thiện hơn với tốc độ tăng khoảng 6,3%/năm. Với kết quả tăng trưởng này, đến năm 2025, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 4.688 USD, đưa Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. 

  

 


[1] Ước 2019 của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF, 11/2019).

[2] Năm 2016 và 2019, ngành NLTS chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, trong khi xuất khẩu nông sản khó khăn do cầu bên ngoài giảm sút.

[3] Năm 2018, 2019, mục tiêu tăng trưởng tín dụng chỉ đạt ra ở mức 14% - thấp hơn rất nhiều so với mức tăng thực tế 18,7% và 18,2% trong các năm 2016, 2017.

[4] Tỷ lệ bội chi NSNN trên GDP giảm nhanh, từ 5,52% năm 2016 xuống 2,74% năm 2017 và duy trì mức bội chi khoảng 3,5% trong các năm sau đó. Tính trung bình giai đoạn 2016-2020, bội chi NSNN/GDP chỉ khoảng 3,73% thấp hơn mức 5,52% của giai đoạn 2006-2011 và 5,79% của giai đoại 2011-2015

[5] Tỷ lệ nợ công trên GDP giảm nhanh từ 63,8% năm 2016 xuống khoảng 56,1% năm 2019 và dự kiến tiếp tục giảm còn 54,3% trong năm 2020. Kì hạn trả nợ dài hơn, lãi suất thấp hơn giai đoạn trước.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả:
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202