Phân tích và Dự báo

Tình hình kinh tế Việt Nam tháng 8 năm 2019

Cập nhật lúc: 05/09/2019 10:00:00 AM

1. Sản xuất công nghiệp tiếp tục được cải thiện trong khi sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn do dịch bệnh và thời tiết

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 8 tiếp tục gặp khó khăn do phải đối mặt với dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi và tình hình thời tiết khắc nghiệt. Sâu keo mùa thu đang gây hại lớn cho cây ngô tại tỉnh Bắc Giang, Phú Yên, Kon Tum, Đồng Tháp, có nơi mật độ nhiễm sâu lên tới 70%. Sâu, bệnh và hạn hán đang gây thiệt hại cho nhiều vùng hồ tiêu trên nhiều địa bàn. Tình hình dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp.  Theo dự báo của cục Nông nghiệp, dịch tả lợn Châu Phi cũng sẽ gây ra sự thiếu hụt về nguồn cung thịt lợn trong năm nay, đặc biệt vào dịp cuối năm. Dự báo giá thực phẩm trên thị trường có khả năng leo thang trong những tháng cuối năm 2019 do thiếu nguồn cung. Trong dài hạn, dự báo những khó khăn trong kiềm chế tái bùng phát dịch, khoanh vùng dập dịch cũng như khả năng tái đàn sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới các hộ chăn nuôi trong cả nước. Trong khi đó, nhiều tỉnh đang phải đối mặt với hậu quả của thiên tai, chủ yếu là hiện tượng bão, mưa lớn và hạn hán cục bộ. Mưa lớn từ ngày 01/8 đến 05/8 do ảnh hưởng của Cơn bão số 3 đã gây ngập lụt, úng khoảng 1.770 ha cây trồng và 6.386 ha bị ngập sâu trong nước tại khu vực Bắc Bộ và 21.800 ha cây trồng ở các khu vực Tây Nguyên. Trong khi đó, khu vực Trung Bộ lại gặp tình trạng hạn hán do thiếu nước và ảnh hưởng đến hơn 16 nghìn ha cây trồng. Dự báo đến hết vụ, diện tích có khả năng bị ảnh hưởng của hạn hán, thiếu nước là khoảng 25 nghìn ha, tăng khoảng 9 nghìn ha so với hiện tại.

Sản xuất công nghiệp duy trì tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8 tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước (thấp hơn so với mức tương ứng 13,4% của cùng kỳ tháng 8/2018). Tính chung 8 tháng, chỉ số IIP tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng IIP của ngành này chủ yếu dựa trên tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo (tăng khoảng 10,6% so với cùng kỳ, thấp hơn mức 16% cùng kỳ năm 2018), đóng góp 8,1 điểm % vào tăng trưởng IIP chung. Tiếp đó là ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,2%, đóng góp 0,9 điểm %; ngành khai khoáng tăng 2,5%, đóng góp 0,4 điểm % và ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%, đóng góp 0,1 điểm %. Trong các ngành công nghiệp cấp II, ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính, sản phẩm quang học bắt đầu phục hồi từ giữa quý II/2019 và đang lấy lại đà tăng trưởng. Trong tháng 8, tăng trưởng IIP của ngành này đạt 20% so với tháng trước cho thấy dấu hiệu tích cực trong tăng trưởng của ngành này sau khi tăng trưởng thấp trong 6 tháng đầu năm.

2. Cán cân thương mại tiếp tục thặng dư

Tính chung 8 tháng năm 2019, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 336,56 tỷ USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:

Trong tháng 8, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 24,5 tỷ USD, tăng 6,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 7,34 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,16 tỷ USD. Xét theo các nhóm hàng hoá, tính đến hết tháng 8/2019, có 26 mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Trong đó, có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD bao gồm: điện thoại và linh kiện; điện tử, máy tính và linh kiện; hàng dệt may; giày dép và máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng. Tính chung 8 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 169,98 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước khoảng 22,8 tỷ USD trong tháng 8, giảm 0,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,3 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,5 tỷ USD. Trong đó, các mặt hàng đóng góp chính vào tổng kim ngạch nhập khẩu là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, phụ tùng; dầu thô, ô tô nguyên chiếc. Các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước là: bông; than đá; thuỷ sản; kim loại thường; sản phẩm chất dẻo, nguyên phụ liệu dệt may, giày dép. Đáng chú ý là trong 2 tháng trở lại đây, kim ngạch nhập nhẩu hàng thuỷ sản của Trung Quốc đã tăng mạnh trở lại, đưa kim ngạch nhập khẩu của cả ngành thuỷ sản trong 8 tháng đầu năm tăng trưởng trở lại so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 166,58 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.

Như vậy, cán cân thương mại hàng hoá tháng 8/2019 xuất siêu 1,7 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hoá của 8 tháng đầu năm xuất siêu khoảng 3,4 tỷ USD.

3. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục khởi sắc trong khi giải ngân vốn đầu tư công vẫn còn chậm

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 8 tháng đầu năm tiếp tục khởi sắc. Tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn điều chỉnh trong 8 tháng năm nay đạt 13,1 tỷ USD, giảm 31,2% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 11,96 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2018. Đáng chú ý, có sự gia tăng mạnh mẽ của hình thức góp vốn, mua cổ phần của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Giá trị các dự án góp vốn, mua cổ phần đang tăng nhanh, đạt 9,51 tỷ USD, tăng 80% so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, đăng ký cấp mới chỉ là 2.406 dự án với tổng vốn đạt 9,1 tỷ USD. Như vậy, liên tục trong những tháng đầu năm 2019, doanh nghiệp nước ngoài góp vốn vào doanh nghiệp trong nước luôn lớn hơn giá trị FDI đăng ký mới.

Giải ngân vốn ngân sách Nhà nước trong các tháng đầu năm chưa được cải thiện và đang ở mức thấp nhất trong những năm trở lại đây. Theo Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng đầu năm đạt 189,2 nghìn tỷ đồng, bằng 53,1% kế hoạch năm và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước (1). Giải ngân vốn đầu tư công chậm là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là do còn chậm trong công tác giải phóng mặt bằng; thủ tục điều chỉnh hạng mục, điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án, điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và dự toán; do ảnh hưởng của địa hình phức tạp, thời tiết; năng lực của một số nhà thầu còn chưa đảm bảo; các dự án chuyển tiếp đang triển khai thi công chưa nghiệm thu khối lượng hoàn thành để giải ngân thanh toán vốn.

4. Tiêu dùng tăng trưởng khá

Tiêu dùng dân cư chỉ tăng nhẹ trong tháng 8 nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao trong 8 tháng. Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đạt 414,4 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, tăng nhẹ so với tháng trước (0,4%) và tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 313,6 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 75% tổng mức chung. Nhu cầu mua sắm trong tháng này trầm lắng hơn so với tháng trước mặc dù nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực may mặc, triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, tăng trưởng bán lẻ của ngành này đang chậm lại. Riêng bán lẻ hàng vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng mạnh trong tháng do học sinh chuẩn bị năm học mới. Tính chung 8 tháng, ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đạt 3.215,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng ước đạt 9,03%, đây là mức tăng trưởng cao trong 3 năm trở lại đây.

5. Lạm phát tiếp tục được kiểm soát

Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 8 có thể tăng nhẹ, nhưng trong tình trạng kiểm soát. Giá xăng đã được điều chỉnh giảm hai lần do giá dầu thế giới giảm làm giảm áp lực tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Tuy nhiên, giá nhóm hàng thực phẩm đang có xu hướng tăng do ảnh hưởng của dịch bệnh những tháng trước gây ra thiếu nguồn cung và giá dịch vụ giáo dục cũng đang có xu hướng tăng do đang bắt đầu vào năm học mới. Ước chỉ số CPI tháng 8 sẽ tăng nhẹ khoảng 0,28% so với tháng trước. Chỉ số CPI tháng 8/2019 tăng 1,87% so với tháng 12 năm trước và CPI bình quân 8 tháng tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước.

6. Thị trường tài chính tiền tệ nhìn chung ổn định

Giá vàng tăng mạnh tuy nhiên chưa ảnh hưởng đến nhiều đến tình hình tài chính tiền tệ trong nước. Giá vàng trong nước tăng mạnh lên mức cao nhất trong 6 năm gần đây ảnh hưởng từ việc giá vàng thế giới gần đây liên tục gia tăng. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, giá vàng tăng mạnh bởi tâm lý quan ngại về tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. Đồng thời, xu hướng hạ lãi suất của ngân hàng trung ương nhiều nước do lo ngại về sự bất ổn của kinh tế Mỹ và căng thẳng địa chính trị ở khu vực Trung Đông. Bám sát diễn biến giá vàng thế giới cộng với tâm lý găm giữ tài sản an toàn đã khiến giá vàng trong nước tăng cao nhanh chóng. Tính đến ngày 21/8/2019, giá vàng thế giới đã tăng hơn 17,5% (225 USD/ounce) so với đầu năm 2019, tương 41,8 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế và phí). Giá vàng trong nước theo đó ở mức 41,9 triệu đồng/lượng.

Tín dụng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng thấp so với cùng kì năm 2018 nhưng có xu hướng tăng nhanh hơn so với những tháng đầu năm 2019. Với mục tiêu thắt chặt tiền tệ - kiềm chế lạm phát - ổn định kinh tế vĩ mô đã được Chính phủ đặt ra từ đầu năm 2019, trong những tháng đầu năm 2019, tăng trưởng tín dụng được kiểm soát khá chặt chẽ với mức tăng thấp hơn so với cùng kì năm 2018. Từ tháng 6/2019, trên cơ sở chỉ tiêu tín dụng định hướng cả năm (14% trong năm 2019), NHNN tiếp tục thực hiện phân bổ tín dụng đảm bảo vừa đáp ứng nhu cầu tín dụng cho toàn nền kinh tế vào thời điểm nhu cầu vốn tăng cao vừa đảm bảo phù hợp với khả năng mở rộng tín dụng của các TCTD. Trong đó, 9 ngân hàng đáp ứng sớm chuẩn Basel II (gồm: Vietcombank, VIB, MB, ACB, Techcombank, OCB, VPBank, MSB và TPBank) đã được cấp thêm room tăng trưởng tín dụng, mức tăng phổ biến từ 13% lên 17%. Theo đó, tính đến cuối tháng 7/2019, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 7,9%. Mặc dù tiếp tục đạt tăng trưởng thấp hơn so với cùng kì năm 2017-2018 (lần lượt là 9,58% và 8,10%), nhưng tốc độ gia tăng tăng trưởng tín dụng trong 2 tháng gần đây được xem là nhanh hơn so với thời điểm 4 tháng đầu năm 2019 (2). Đồng thời, tín dụng đối với một số ngành là động lực tăng trưởng kinh tế (như công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ) và hầu hết các lĩnh vực ưu tiên như công nghiệp hỗ trợ, lĩnh vực xuất khẩu đều tăng trưởng tích cực, tương đương hoặc cao hơn so với mức tăng trưởng chung.

Lãi suất bình quân liên ngân hàng (LNH) tiếp tục xu hướng giảm, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay nhìn chung chưa có dấu hiệu gia tăng. Trong tháng 8/2019, một số ngân hàng thương mại (NHTM) (3) tiếp tục có động thái tăng lãi suất huy động, đặc biệt là ở các kỳ hạn trung vào dài hạn. Lãi suất huy động ở một số ngân hàng thậm chí đã tăng lên mức 8%/năm đối với kỳ hạn trên 12 tháng (so với mức lãi suất 7-7,5% trước đó) và trên 9,5% đối với các kỳ hạn trên 24 tháng (4). Nguyên nhân là do áp lực đảm bảo các điều kiện về chỉ số an toàn vốn, giảm tỷ lệ vốn duy động ngắn hạn để cho vay trung vào dài hạn theo yêu cầu của NHNN khi nhu cầu vốn tín dụng gia tăng. Mặc dù vậy, tại các ngân hàng lớn, lãi suất huy động và cho vay vẫn duy trì ổn định. Đồng thời, lãi suất bình quân LNH trong tháng 8/2019 tiếp tục xu hướng giảm (lần lượt 0,11, 0,12 và 0,22, 0,48, 0,19, 0,39 điểm % so với tháng 7/2019 và giảm từ 0,2-1,9 điểm % so với đầu năm 2019) ở các kì hạn qua đêm, 1 tuần và 2 tuần,1 tháng, 3 tháng và 6 tháng. Các yếu tố nền tảng vẫn được đảm bảo, như lạm phát trong tầm kiểm soát (trung bình 6 đầu năm 2019 đang ở mức thấp nhất trong 3 năm qua), áp lực từ phía tỷ giá không lớn, cùng với sự linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và sự ủng hộ tích cực từ phía các NHTM cổ phần Nhà nước và các ngân hàng lớn. Lãi suất tín phiếu ngân hàng đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh xuống còn 2,75%/năm với kỳ hạn 7 ngày, giảm 0,25 điểm % so với mức 3%/năm đã duy trì từ 10/10/2018. Theo đó, mặt bằng lãi suất nhìn chung chưa có cơ sở gia tăng trong thời gian tới.

Tỷ giá USD/VND chỉ tăng nhẹ trong tháng 8/2019. Trong đó, tỷ giá trung tâm tăng từ 23.073 VND/1USD vào cuối tháng 7/2019 lên 23.120 VND/1USD ngày 21/8/2019, tương đương mức tăng 0,2%. Tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do tăng 0,3% từ mức 23.203 (ngày 31/7/2019) lên mức 23.270 VND/1USD (ngày 05/8/2019), sau đó giảm dần và duy trì ở mức 23.204 VND/1USD (đến ngày 21/8/2019). Các yếu tố nền tảng đảm bảo ổn định tỷ giá vẫn khá mạnh với giải ngân FDI ở mức cao (đạt 10,55 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2019), cán cân thương mại tiếp tục thặng dư (hơn 2 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm), các giao dịch bán vốn, phát hành quốc tế thành công giúp gia tăng nguồn cung ngoại tệ trong tháng. Nhờ vậy, mặc dù USD tăng giá mạnh trên thị trường quốc tế nhưng VND vẫn là một trong số ít các đồng tiền mất giá nhẹ trong tháng qua./.

Chú thích:

  1. Cùng kỳ năm 2018 là 10,4%; năm 2017 là 6,4% và năm 2016 là 12,9%

  2. Tính đến ngày 31/3/2019 tín dụng toàn nền kinh tế chỉ tăng 3,5% so với cuối năm trước (thấp xa so với mức tăng 5,66% và 5,13%  ở cùng thời điểm của các năm 2017-2018), nhưng đến cuối tháng 7/2019, tăng trưởng tín dụng đã đạt con số 7,95%, xấp xỉ mức tăng 8,1% ở cùng thời điểm của năm 2018. 

  3. Trong tháng 8, ABBank tăng 0,7-0,8 điểm %; SHB tăng từ 0,2-1 điểm %; OCB tăng 0,3 điểm %; BIDV tăng từ 0,1-0,2 điểm % lãi suất huy động so với trước đó;

  4. Ngân hàng Bản Việt tăng lãi suất huy động các kỳ hạn 24, 36, 48 và 60 tháng lên mức 9,5%, 9,8%, 10% và 10,2%/năm.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202