Phân tích và Dự báo

Đánh giá tác động của việc tăng giá điện, giá xăng lên lạm phát

Cập nhật lúc: 08/08/2019 02:57:00 PM

Biến động giá cả hàng hóa luôn tạo ra những ảnh hưởng tác động trực tiếp đến hoạt động doanh nghiệp và đời sống người dân, đặc biệt là những hàng hóa là đầu vào sản xuất hay những loại hàng hóa thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng. Ngoài việc tác động tăng giá trực tiếp, nhiều mặt hàng gián tiếp tác động làm tăng giá các mặt hàng khác, nhiều khi tạo ra một mặt bằng giá mới trên thị trường. Với Việt Nam, những hàng hóa tác động đến nền kinh tế và đời sống nhân dân thời gian qua thường là những mặt hàng thiết yếu quan trọng như: điện, xăng.

Thực tế, theo Quyết định 648/QĐ-BCT, từ ngày 20/3/2019, giá bán lẻ điện sinh hoạt tăng bình quân 8,36%, tương ứng với mức giá bình quân (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) là 1.864,44 đồng/kWh. Giá bán thấp nhất là 1.678 đồng/kWh cho 50 kWh đầu tiên và cao nhất là 2.927 đồng/kWh cho kWh từ 401 trở đi[1]. So với giá bán điện quy định theo Quyết định số 4495/QĐ-BCT (ngày 01/12/2017), hộ tiêu dùng đến 50kWh phải chi trả thêm 7.095 đồng; đến 100 kWh chi thêm 14.465 đồng; đến 200kWh chi thêm 31.625 đồng; đến 300kWh chi thêm 53.185 đồng; đến 400kWh thêm 77.275 đồng. Mức chi tiêu theo giá điện mới tăng từ 8,33-8,4% so với giá cũ, tùy bậc tiêu thụ. Việc tăng giá điện làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng tới kế hoạch sản xuất và lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt với một số ngành sử dụng nhiều điện. Mặt khác, tăng giá điện làm tăng chỉ số giá tiêu dùng, giảm cầu tiêu dùng của người dân và làm giảm GDP. Với hộ gia đình, tăng giá điện làm giảm thu nhập thực tế và tạo thêm áp lực chi tiêu, đặc biệt với hộ thu nhập thấp[2].

Về thực trạng tăng giá xăng, trong nửa đầu năm 2019, liên bộ: Công thương - Tài chính đã tám lần điều chỉnh giá xăng dầu, trong đó, có bốn lần giữ nguyên giá, một lần giảm và ba lần tăng giá với mức chênh lệch 3.090 đồng/lít đối với xăng Ron 95; 2.720 đồng/lít đối với xăng E5 Ron 92; 1.380 đồng/lít đối với dầu đi-ê-den. Ðáng chú ý, trong vòng 15 ngày của hai kỳ điều hành liên tiếp, từ ngày 2-4 đến 17-4, giá xăng Ron 95 tăng hơn 2.690 đồng/lít, xăng E5 Ron 92 tăng 2.290 đồng/lít đã tạo sức ép không nhỏ tới việc tăng giá các loại hàng hóa. Bên cạnh đó, việc liên tục xả quỹ trong thời gian dài khiến các DN kinh doanh xăng dầu bị âm vốn hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của DN, tác động đến giá cả thị trường cũng như dư luận xã hội. Công tác điều hành giá xăng dầu trong thời gian qua được đánh giá là vẫn nặng về mệnh lệnh hành chính, giá chưa thật sự vận hành theo cơ chế thị trường. Ðáng chú ý, việc điều hành giá xăng dầu thông qua việc trích lập và sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu chưa linh hoạt, chưa sát thực tế.

Sau đây là một số phân tích ảnh hưởng của biến động giá xăng và điện đến giá của các nhóm hàng hóa khác và lạm phát nói chung. Kết quả của những phân tích này được dựa trên ứng dụng mô hình IO để xem xét tác động của thay đổi giá cả của các nhân tố đầu vào đến giá cả đầu ra và mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế.

Rổ hàng hóa tính CPI là nhóm danh mục mặt hàng và dịch vụ chủ yếu, đại diện cho tiêu dùng của dân cư trong một giai đoạn nhất định, được điều tra thu thập theo định kỳ, phục vụ tính chỉ số giá tiêu dùng trong giai đoạn đó. Danh mục các mặt hàng đại diện trong "rổ" hàng hóa phân thành 11 nhóm ngành hàng lớn, bao gồm:

1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

2. Đồ uống và thuốc lá

3. May mặc, mũ nón, giày dép

4. Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng

5. Thiết bị và đồ dùng gia đình

6. Thuốc và dịch vụ y tế

7. Giao thông

8. Bưu chính viễn thông

9. Giáo dục

10. Văn hoá, giải trí và du lịch

11. Hàng hoá và dịch vụ khác

Quyền số tính CPI là tỷ trọng chi tiêu cho các nhóm hàng hoá và dịch vụ trong tổng chi tiêu của dân cư. Đây là tỷ trọng chi tiêu của năm gốc so sánh được sử dụng cố định trong 5 năm (đồng nhất với năm cập nhật danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện). Sau mỗi chu kỳ 5 năm, danh mục mặt hàng đại diện, quyền số lại được cập nhật cho phù hợp với thị trường tiêu dùng và cơ cấu chi tiêu cho đời sống hàng ngày của người dân trong giai đoạn hiện tại. Tùy theo mỗi thời kỳ, rổ hàng hóa tính CPI cũng như quyền số tính toán các mặt hàng trong rổ hàng hóa này có khác biệt.

Quyền số của các nhóm ngành hàng cũng thay đổi theo từng giai đoạn phù hợp với phát triển của nền kinh tế:

Thay đổi quyền số của các nhóm hàng hóa qua các giai đoạn

Đơn vị: %

Nhóm hàng

Quyền số

Giai đoạn 2006-2009

Giai đoạn 2010-2014

Giai đoạn 2015-2020

 

01

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

42,85

39,93

36,12

 

02

Đồ uống và thuốc lá

4,56

4,03

3,59

 

03

May mặc, mũ nón, giày dép

7,21

7,28

6,37

 

04

Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng

9,99

10,01

15,73

 

05

Thiết bị và đồ dùng gia đình

8,62

8,65

7,31

 

06

Thuốc và dịch vụ y tế

5,42

5,61

5,04

 

07

Giao thông

9,04

8,87

9,37

 

08

Bưu chính viễn thông

 

2,73

2,89

 

09

Giáo dục

5,41

5,72

5,99

 

10

Văn hoá, giải trí và du lịch

3,59

3,83

4,29

 

11

Hàng hoá và dịch vụ khác

3,31

3,34

3,3

 

 

Tổng cộng

100

100

100

 

 

          Nguồn: Tổng cục Thống kê

Với mức tăng giá điện lên 1% thì CPI sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp tăng lên 0,0015%, chưa tính đến việc tác động tăng giá đến một số nhóm hàng hóa khác; tương tự như vậy khi giá xăng tăng lên 1% thì CPI sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp tăng lên 0,0009%.

 Sau đây là ảnh hưởng của của việc tăng giá điện hoặc xăng lên 1% đến các nhóm hàng hóa khác:

Nhóm hàng hóa

Mức giá tăng khi giá điện tăng 1% (%)

Mức giá tăng khi giá xăng tăng 1% (%)

 

Hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống

0,0266

0,0223

 

Đồ uống và thuốc lá

0,0287

0,0215

 

May mặc giày dép mũ nón

0,0419

0,0161

 

Nhà ở, vật liệu xây dựng

0,0241

0,0205

 

Thiết bị và đồ dùng gia đình

0,0304

0,0144

 

Thuốc và dịch vụ y tế

0,0277

0,0112

 

Giao thông

0,0171

0,0914

 

Bưu chính viễn thông

0,0254

0,0137

 

Giáo dục

0,0233

0,0115

 

Văn hóa giải trí, du lịch

0,0412

0,0157

 

Đồ dùng và dịch vụ khác

0,0255

0,0182

 

CPI tăng (%)

0,027

0,0256

 
 
 

          Nguồn: Tính toán của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), 6/2019

Như vậy, với mức tăng giá điện lên 1% thì một số nhóm hàng hóa khác cũng tăng giá làm cho CPI có thể tăng lên 0,03% chứ không phải 0,0015% nữa, tương tự như vậy khi giá xăng tăng 1% thì cũng kéo theo sự tăng giá của một những nhóm hàng hóa khác và có thể là CPI tăng thêm 0,025%.

 

[1] Giá bán lẻ điện sinh hoạt được chia làm 6 bậc: bậc 1 (0-50 kWh): 1.678 đồng/kWh, bậc 2 (50-100 kWh): 1.734 đồng/kWh, bậc 3 (101-200 kWh): 2.014 đồng/kWh, bậc 4 (201-300 kWh): 2.536 đồng/kWh, bậc 5 (301-400 kWh): 2.834 đồng/kWh, bậc 6 (từ 401 kWh): 2.927 đồng/kWh.

[2] Theo Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014, hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện cho mục đích sinh hoạt với mức hỗ trợ hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ bậc 1 và mức hỗ trợ tiền điện từ tháng 3/2019 sẽ được điều chỉnh dựa trên giá bán lẻ điện bình quân mới. Do phần lớn hộ nghèo tiêu thụ dưới 50 kWh/tháng nên mức hỗ trợ bằng tiền mặt như trên giúp bù đắp tiêu thụ điện với hộ nghèo, đặc biệt với hộ nghèo ở khu vực nông thôn. Do vậy, tăng giá điện không ảnh hưởng nhiều đến nhóm hộ này.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202