Phân tích và Dự báo

Triển vọng kinh tế Việt Nam những tháng cuối năm 2019

Cập nhật lúc: 08/08/2019 02:50:00 PM

Trong những tháng còn lại của năm 2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng đan xen cả những mặt thuận lợi và hạn chế đến từ kinh tế quốc tế và các yếu tố từ bản thân nội tại của nền kinh tế. Về mặt tích cực, kinh tế Việt Nam được hỗ trợ bởi cầu nội địa gia tăng mạnh mẽ nhờ có dòng vốn tăng từ du lịch, kiều hối và đầu tư FDI, tầng lớp trung lưu và quá trình đô thị hóa đang được đẩy mạnh. Tăng trưởng nhiều khả năng được giữ vững trong thời gian tới với sự hỗ trợ của ngành công nghiệp chế biến chế tạo định hướng xuất khẩu và cơ chế thúc đẩy nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo được kỳ vọng vẫn có mức tăng trưởng khả quan thông qua những chính sách thúc đẩy sản xuất từ Chính phủ. Bên cạnh đó, động lực tăng trưởng dự kiến sẽ được tiếp tục tăng cường nhờ những cải cách đang diễn ra để cải thiện môi trường kinh doanh và khuyến khích đầu tư tư nhân. Cụ thể:

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được hưởng lợi khi có nhiều yếu tố tích cực hỗ trợ trong năm 2019 như kỳ vọng về tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cũng như cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại. Các hiệp định thương mại đàm phán thành công sẽ đem lại cơ hội cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, không chỉ ở các khoản đầu tư mới mà cả việc mở rộng dự án sẵn có.

Vốn đầu tư phát triển đạt kết quả thuận lợi khi Chính phủ tiếp tục thúc đẩy tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là các nguồn vốn NSNN, trái phiếu Chính phủ, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội được cải thiện hơn so với năm 2018. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục có sự phát triển mạnh mẽ nhờ chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.

Xuất nhập khẩu cũng nhận được nhiều thuận lợi từ các nỗ lực cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh trong nước. Việc CPTPP chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2019 và Hiệp định FTA Việt Nam – EU (EVFTA) đã được ký kết vào năm 2019 đã và đang tạo ra sức hút mới cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, giúp các doanh nghiệp có thêm năng lực sản xuất mới.

Ngoài ra, trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung diễn ra gay gắt, việc tận dụng tốt cơ hội để xuất khẩu nhóm hàng vốn là thế mạnh của Việt Nam như da giày, dệt may, sản phẩm thuỷ sản sẽ là hướng đi hợp lý trong bối cảnh thương mại hiện nay, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Tiêu dùng tiếp tục xu hướng tăng trưởng ổn định trong những tháng cuối năm. Các yếu tố tích cực chủ yếu vẫn đến từ sự đảm bảo nguồn tài chính của người dân với kỳ vọng tăng trưởng kinh tế ngày càng tốt hơn vào những tháng cuối năm. Doanh nghiệp bán lẻ được kỳ vọng tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tiêu thụ hàng hóa phù hợp hơn với hành vi tiêu dùng của người dân cũng như việc ứng dụng các công nghệ và các mô hình kinh doanh mới, đảm bảo doanh thu bán lẻ trong những tháng cuối năm. Mặc dù mức thu nhập nhìn chung còn thấp có thể ảnh hưởng đến doanh thu bán lẻ nhưng sự phục hồi khả quan của nền kinh tế cùng các động lực tăng trưởng có thể đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh và củng cố niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá cả các mặt hàng tăng đang có ảnh hưởng tiêu cực đến mức sống của người dân, sức mua sẽ khó tạo ra biến động mạnh mẽ trong những tháng cuối năm trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đang tăng trưởng ở mức tương đối cao so với các năm trước.

Mặc dù vậy, những tháng còn lại của năm 2019, nền kinh tế còn phải đối mặt với những thách thức:

(i) Một số ngành vốn tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế như ngành sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học không còn duy trì được tốc độ tăng trưởng ấn tượng như giai đoạn trước khi động lực tăng trưởng từ phía doanh nghiệp Samsung còn là một ẩn số trước những lo ngại về mức giảm quy mô sản xuất của doanh nghiệp này so với cùng kỳ[1]. Thách thức cạnh tranh mà Samsung gặp phải trên thị trường toàn cầu có thể khiến doanh nghiệp giảm sút tăng trưởng làm cho ngành công nghiệp chế biến dù vẫn trong xu hướng tiếp tục cải thiện song mức độ tích cực sẽ kém lạc quan hơn so với cùng kỳ.

(ii) Lĩnh vực sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều rào cản. Sự gắn kết với khu vực FDI và năng lực, hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế.

(iii) Xuất khẩu nông sản được dự báo sẽ còn đối mặt với nhiều thách thức, khiến khu vực nông, lâm thủy sản khó có thể đạt mức tăng trưởng cao như cùng kỳ do: (1) Ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 dự báo giảm và các nước trên thế giới có xu hướng quay lại tập trung đầu tư cho phát triển nông nghiệp; (2) Các mặt hàng nông sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu, khiến cho giá giảm sâu; trong khi đó, các nước nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Xuất khẩu của Việt Nam trong ngắn hạn sẽ nhận được lợi thế từ sự chuyển hướng thương mại do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vẫn sẽ chậm lại do Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc; trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc đang giảm sút.

(iv) Giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hóa DNNN, thoái vốn ở nhiều bộ ngành, địa phương chậm.

(v) Sức ép lạm phát cao do tác động của nhiều yếu tố: như giá dầu thế giới có xu hướng tăng, tình hình thời tiết diễn biến xấu và dịch bệnh có thể làm tăng giá nhóm hàng hóa lương thực, thực phẩm. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố giúp kiềm chế tốc độ tăng CPI trong thời gian tới như công tác điều hành giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý đã được các bộ, ngành địa phương phối hợp chặt chẽ và thực hiện đồng bộ các biện pháp góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI. Các bộ, ngành địa phương thực hiện các chương trình bình ổn thị trường, tổ chức kiểm tra, kiểm soát thị trường giá cả. Việc điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt giúp ổn định thị trường ngoại tệ góp phẩn đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

(vi) Áp lực tỷ giá vẫn rất lớn và đến từ nhiều phía, trong khi điều hành chính sách tỷ giá đang gặp khó, một mặt đối diện với việc giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá nếu VND không có mức giảm giá phù hợp, mặt khác lại đối diện với rủi ro bị gắn nhãn “quốc gia thao túng tiền tệ” nếu đồng VND giảm giá quá mức.

Trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế 6 tháng đầu năm 2019 và dự báo một số xu hướng chính của các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế trong và ngoài nước, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia dự báo một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2019 theo Bảng sau:

Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam năm 2019

CHỈ TIÊU

ĐƠN VỊ

NĂM 2018

6 THÁNG 2019

ƯỚC CẢ NĂM 2019

 
 

I. Tăng trưởng kinh tế

 

- Chung

%

7,08

6,76

6,86

 

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

%

3,76

2,39

3,02

 

- Công nghiệp – Xây dựng

%

8,85

8,93

8,61

 

- Dịch vụ

%

7,03

6,69

6,84

 

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp SP

%

6,08

6,19

6,31

 

II. Chỉ số giá tiêu dùng

 

- So với tháng 12

%

102,98

101,41

103,84

 

- Bình quân so với cùng kỳ năm trước

%

103,54

102,64

103,13

 

III. Xuất nhập khẩu

 

- Tổng kim ngạch xuất khẩu

Tỷ USD

243,48

122,53

266,12

 

- Tổng kim ngạch nhập khẩu

Tỷ USD

236,69

120,94

262,92

 

- Xuất khẩu ròng

Tỷ USD

6,79

1,59

3,2

 

IV. Đầu tư trực tiếp nước ngoài

 

- Vốn thực hiện

Tỷ USD

19,1

9,1

21,7

 
 

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), 6/2019

 


[1] Trên thực tế, đà suy giảm kinh doanh của Samsung bắt đầu từ cuối năm 2017 và xuyên suốt cả năm 2018. Báo cáo từ hai hãng nghiên cứu thị trường IDC và Strategy Analytics đều chỉ ra doanh số smartphone Samsung giảm khoảng 13% trong quý 3/2018, sau khi giảm 10% quý 2, 2% quý 1 và 4% quý 4/2017. Với kỳ vọng đưa ra dòng điện thoại S10, số lượng điện thoại sản xuất và xuất khẩu của Samsung sẽ tăng mạnh trong các tháng tới. Một số dự báo cho thấy tăng trưởng điện thoại Galaxy S10 sản xuất chủ yếu ở Việt Nam (70%) sẽ có sự tăng trưởng cao hơn khoảng 10% so với lượng tiêu thụ S9 năm 2018.

 

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202