Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế vĩ mô

Kinh tế Việt Nam: Những nét nổi bật trong 6 tháng đầu năm và triển vọng năm 2019

Cập nhật lúc: 18/07/2019 09:16:00 AM

Một nửa chặng đường của năm 2019 đã kết thúc. Trong bối cảnh thương mại, đầu tư toàn cầu không khả quan như dự báo, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại với nhiều yếu tố rủi ro gia tăng, nhất là vấn đề căng thẳng giữa các nền kinh tế lớn, kinh tế Việt Nam vẫn đạt nhiều kết quả tích cực. Tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 6,76%, tuy thấp hơn cùng kỳ năm 2018 (7,05%) nhưng vẫn là mức cao so với cùng kỳ các năm giai đoạn 2011-2017. Trong đó, khu vực CNXD tiếp tục giữ vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn nền kinh tế. Công nghiệp chế biến, chế tạo có sự phát triển đồng đều, giảm bớt phụ thuộc vào một số nhóm hàng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tận dụng khá tốt các cơ hội từ hội nhập quốc tế, cơ hội từ xung đột thương mại Mỹ - Trung để gia tăng xuất khẩu nhiều mặt hàng có lợi thế. Ổn định vĩ mô được duy trì: lạm phát trong tầm kiểm soát; lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm ở hầu hết các kỳ hạn; tăng trưởng tín dụng thấp, phù hợp với mục tiêu tăng 14% trong năm 2019; cân đối thu chi ngân sách nhà nước được đảm bảo. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và rủi ro tiềm ẩn: Ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi lây lan trên diện rộng; xuất khẩu nông sản chịu áp lực cạnh tranh lớn và sự gia tăng các rào cản thương mại. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng chậm lại do sức cầu đối với mặt hàng điện tử, điện thoại giảm sút. Giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hóa và thoái vốn ở các doanh nghiệp nhà nước tại nhiều địa phương còn chậm. Nguy cơ lạm phát vẫn hiện hữu do tác động xu hướng tăng giá dầu thô trên thị trường quốc tế và việc thực hiện lộ trình tăng giá đối với một số mặt hàng thiết yếu.

Giám đốc NCIF - TS. Trần Thị Hồng Minh.

Những tháng còn lại của năm 2019, các yếu tố khó khăn và thuận lợi đan xen. Trên bình diện quốc tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới mặc dù dự báo sẽ thấp hơn so với năm 2018 nhưng dự kiến vẫn đạt mức khá do kỳ vọng vào tăng trưởng của một số nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, cũng như sự ổn định của giá cả hàng hóa thế giới. Bên cạnh đó, một số yếu tố có thể tác động cả tích cực và tiêu cực đến kinh tế Việt Nam như: việc giảm giá đồng NDT của Trung quốc, đối tác thương mại lớn của Việt Nam; diễn biến của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung; hay sự căng thẳng giữa Mỹ và Iran trong vấn đề dầu mỏ. Ở trong nước, những nỗ lực của Chính phủ trong việc tiếp tục tập trung tiến trình cải cách, cải thiện môi trường đầu tư, tận dụng các cơ hội của hội nhập quốc tế (nhất là trong điều kiện Hiệp định CPTPP bắt đầu có hiệu lực thực thi với Việt Nam từ năm 2019 và Hiệp định EVFTA dự kiến được phê chuẩn nội bộ các bên và chính thức có hiệu lực vào cuối năm 2019) sẽ là các yếu tố quan trọng quyết định cục diện kinh tế Việt Nam những tháng cuối năm cũng như cả năm 2019. Trong bối cảnh đó, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019 có thể vượt mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra (6,6-6,8%).

Dưới đây là những phân tích, đánh giá những nét chính của bức tranh kinh tế Việt Nam và triển vọng phát triển năm 2019.
 
Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 đạt nhiều kết quả đáng khích lệ
 
Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, tăng trưởng GDP toàn cầu nửa đầu năm 2019 tiếp tục xu hướng chậm lại. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) dù vẫn đạt trên 50 điểm song tốc độ tăng ở mức thấp nhất trong 36 tháng qua[1]. Đầu tư, thương mại thế giới không khả quan như dự báo. Thị trường chứng khoán có dấu hiệu bất ổn do diễn biến phức tạp của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Giá cả hàng hoá biến động phức tạp, đặc biệt giá dầu. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 vẫn đạt 6,76%, tuy thấp hơn cùng kỳ năm 2018 (7,05%) nhưng vẫn là mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ các năm 2011-2017[2] (xem hình 1). Trong đó: Khu vực CNXD tăng 8,93%, tiếp tục giữ vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng toàn kinh tế khi đóng góp 51,8% vào tốc độ tăng trưởng GDP chung (so với 48,9% của cùng kỳ năm 2018) (xem hình 2). Công nghiệp chế biến, chế tạo có sự phát triển đồng đều, giảm bớt phụ thuộc vào một số nhóm hàng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn duy trì mức tăng trưởng khá 2,39% (thấp hơn mức 3,93% cùng kỳ năm 2018, nhưng cao hơn mức tương ứng 2,36% và -0,18% của năm 2015-2016). Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng 6,69%, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2017-2018 (tương ứng 6,89 và 6,9%) nhưng cao hơn so với cùng kỳ các năm từ 2012 đến 2016[3], nhờ đóng góp đáng kể của nhóm ngành bán buôn, bán lẻ.

Tăng trưởng xuất khẩu mặc dù chậm hơn so với cùng kỳ năm trước, tình trạng nhập siêu quay trở lại, song có thể thấy Việt Nam đã tận dụng khá tốt các cơ hội từ hội nhập quốc tế cũng như các cơ hội từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm đạt 122,72 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018, là mức tăng thấp nhất trong 3 năm trở lại đây[4]. Trong khi kim ngạch nhập khẩu tăng 10,5% - tăng mạnh hơn so với cùng của năm 2018. Theo đó, thâm hụt thương mại hàng hóa là 34 triệu USD. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở mức cao (xem hình 3). Việt Nam được xem là nước có nhiều cơ hội khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc diễn ra. Tận dụng cơ hội này, Việt Nam đã thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế. Xuất khẩu sang thị trường Mỹ theo đó đã tăng mạnh ở nhiều mặt hàng: máy tính, sản phẩm điện tử, điện thoại; gỗ, các sản phẩm từ gỗ; sản phẩm từ sắt thép; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác (xem hình 4). Tính đến hết tháng 6 năm 2019, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 27,5 tỷ USD, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn rất nhiều so với mức tăng 9,2% của 6 tháng đầu năm 2018.

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là điểm sáng. Trong đó, vốn đầu tư thực hiện của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 6 tháng đầu năm đạt 208,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,4% tổng vốn đầu tư toàn nền kinh tế và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2018 nhờ vào nhiều yếu tố tích cực của nền kinh tế cũng như môi trường kinh doanh ngày càng cải thiện. Vốn giải ngân các dự án FDI ở mức cao, đạt 9,1 tỷ USD, tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2018 (con số tương ứng năm 2018 là 8,37 tỷ USD và tăng 8,4%).

Ổn định vĩ mô tiếp tục được duy trì: Lạm phát trong tầm kiểm soát. Lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm ở hầu hết các kỳ hạn. Tăng trưởng tín dụng thấp, phù hợp với định hướng điều hành và mục tiêu tăng 14% trong năm 2019. Tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường. Cụ thể:

- CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2019 chỉ tăng 2,64%, mức thấp nhất trong 3 năm trở lại đây[5]. Đây được xem là kết quả tích cực trong điều kiện giá một số mặt hàng như điện, xăng dầu, dịch vụ y tế tăng. Nguyên nhân một phần là do tác động của chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt.

- Tín dụng toàn nền kinh tế tính đến ngày 31/5/2019 (theo báo cáo của NHNN) tăng 5,74% so với cuối năm 2018, thấp hơn so với mức tăng của cùng kỳ các năm 2017-2018[6]. Ước tính đến ngày 30/6/2019, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 7,8% (so với  mức tăng  7,86% của cùng kỳ năm 2018). Tăng trưởng tín dụng thấp được xem là phù hợp với mục tiêu thắt chặt tiền tệ - kiềm chế lạm phát - ổn định kinh tế vĩ mô đã được Chính phủ đặt ra từ đầu năm 2019. Định hướng tăng tín dụng thấp là cần thiết khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức cao, tỷ lệ này năm 2018 lên đến 131%[7].

- Với các hoạt động bơm, hút ròng VNĐ linh hoạt của NHNN nhằm đảm bảo ổn định thị trường, lãi suất LNH có xu hướng giảm nhanh ở tất cả các kì hạn. Cụ thể, tính đến 15/6/2019, lãi suất LNH trung bình kì hạn qua đêm giảm 1,12 điểm % về mức 3,23%/năm; lãi suất trung bình kì hạn 1 tuần giảm 1,54 điểm % xuống mức 3,12%/năm; lãi suất trung bình kì hạn 2 tuần giảm 1,78 điểm % về mức 3,10%/năm; tương tự, lãi suất LNH trung bình các kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng giảm tương ứng 1,42, 1,00 và 1,53 điểm % so với tháng 1/2019. Lãi suất huy động và cho vay trên thị trường tương đối ổn định trong 6 tháng đầu năm 2019.

- Tỷ giá USD/VND mặc dù có đợt biến động mạnh nhất kể từ cuối năm 2018, song vẫn trong tầm kiểm soát. Nguyên nhân của đợt biến động là do ảnh hưởng từ các diễn biến mới của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung[8] và sự mất giá sâu của đồng Nhân dân tệ (NDT) trong tháng 5/2019. Tính riêng trong tháng 5, đồng NDT đã mất giá khoảng 3%, trở thành đồng tiền giảm giá mạnh nhất khu vực Châu Á. Trong khi đó, Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam nên biến động của đồng NDT có tác động nhất định đến đồng VND. Hiện tại, tỷ giá USD/VND vẫn trong tầm kiểm soát của Chính phủ và NHNN do chính sách điều hành kịp thời và linh hoạt dựa trên các yếu tố nền tảng như: nguồn cung ngoại tệ vẫn khá ổn định, dự trữ ngoại hối hiện vẫn ở mức cao (tính đến hết tháng 6/2019, dự trữ ngoại hối đạt khoảng trên 64,5 tỷ USD) và triển vọng gia tăng nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ những thương vụ bán vốn lớn.

Nhưng đằng sau những kết quả đạt được là nhiều khó khăn, thách thức và rủi ro

- Ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi đang diễn ra trên diện rộng; xuất khẩu nông sản chịu áp lực cạnh tranh lớn và sự gia tăng các rào cản thương mại nhất là từ thị trường Trung Quốc, trong khi đây là mặt hàng khó dịch chuyển thị trường.

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng chậm lại (ở mức 11%, thấp hơn so với 12,87% của cùng kỳ năm 2018), do sức cầu đối với mặt hàng điện tử, điện thoại giảm sút. Một số ngành vốn tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế như điện thoại, điện tử không còn duy trì được tốc độ tăng trưởng ấn tượng như giai đoạn trước. Cụ thể, động lực tăng trưởng từ phía doanh nghiệp Samsung còn là một ẩn số trước những lo ngại về mức giảm quy mô sản xuất của doanh nghiệp này so với cùng kỳ[9]. Thách thức cạnh tranh mà Samsung gặp phải trên thị trường toàn cầu có thể khiến doanh nghiệp sụt giảm tăng trưởng tác động, làm cho ngành công nghiệp chế biến dù vẫn trong xu hướng tiếp tục cải thiện song mức độ tích cực sẽ chậm lại so với cùng kỳ.

- Giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hóa và thoái vốn ở các doanh nghiệp nhà nước tại nhiều địa phương còn chậm.

- Nguy cơ lạm phát gia tăng vẫn hiện hữu do tác động của nhiều yếu tố như xu hướng tăng giá dầu thô trên thị trường quốc tế và việc thực hiện lộ trình tăng giá đối với một số mặt hàng thiết yếu (điện, dịch vụ y tế, giáo dục).- Rủi ro từ vấn đề tỷ giá vẫn hiện hữu. Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung diễn biến phức tạp. Giá trị đồng USD có xu hướng tăng lên, trong khi giá trị đồng NDT và một số đồng tiền trong khu vực có thể tiếp tục giảm. Điều này có tác động không nhỏ tới tỷ giá USD/VND. Trong thời gian tới, nếu Trung Quốc tiếp tục hạ giá đồng NDT để đối phó với Mỹ, áp lực giảm giá lên VND sẽ tăng lên đáng kể: (1) NHNN sẽ phải tính đến khả năng chủ động hạ giá VND để hạn chế sự giảm sút sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam so với các quốc gia mới nổi khác; (2) Việt Nam có thể phải đối mặt với tình trạng dòng vốn đầu tư nhanh chóng rút khỏi các thị trường mới nổi do quan ngại suy thoái kinh tế tại Trung Quốc, theo đó gây sức ép lên VND.

Cơ hội, thách thức và triển vọng phát triển năm 2019

Tăng trưởng kinh tế thế giới, mặc dù dự báo sẽ thấp hơn so với năm 2018, nhưng dự kiến vẫn đạt mức khá (3,44% trong năm 2019)[10]. Những nhân tố hậu thuẫn cho đà tăng trưởng của kinh tế thế giới những tháng cuối năm 2019 bao gồm: (1) Tăng trưởng kinh tế một số nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU và một số nước khác tiếp tục ổn định, mặc dù với tốc độ chậm hơn[11]; (2) Giá cả hàng hóa thế giới hạ nhiệt; (3) Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn đang được đẩy nhanh tạo thêm kỳ vọng cho tăng trưởng. Ngược lại, nhiều yếu tổ rủi ro tiềm ẩn cản trở triển vọng kinh tế thế giới trong giai đoạn này cũng đang có chiều hướng gia tăng, bao gồm: (1) căng thẳng thương mại và vấn đề thuế quan leo tháng; (2) chính sách thắt chặt về tài chính của một số nước lớn; (3) tính không xác định liên quan đến hậu quả của việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (Brexit); (4) sự tăng trưởng chậm lại nhanh chóng của nền kinh tế Trung Quốc[12].

Đối với kinh tế Việt Nam, một số yếu tố có thể tác động cả tích cực và tiêu cực từ bên ngoài gồm: việc phá giá đồng NDT của Trung quốc, đối tác thương mại lớn của Việt Nam; diễn biến của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung; hay sự căng thẳng giữa Mỹ và Iran trong vấn đề dầu mỏ. Cùng với đó, những nỗ lực của Chính phủ tiếp tục tập trung tiến trình cải cách, cải thiện môi trường đầu tư, tận dụng các cơ hội từ hội nhập quốc tế (nhất là trong điều kiện Hiệp định CPTPP bắt đầu có hiệu lực thực thi với Việt Nam từ năm 2019 và Hiệp định EVFTA dự kiến được phê chuẩn nội bộ các bên và chính thức có hiệu lực vào cuối năm 2019) sẽ là các yếu tố quan trọng quyết định cục diện kinh tế Việt Nam những tháng cuối năm cũng như cả năm 2019.  

Trong bối cảnh đó, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019 ở mức 6,86%, vượt mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2019 (6,6-6,8%). Trong đó, tăng trưởng của các khu vực kinh tế lớn lần lượt là: NLTS 3,02%; CN&XD 8,61% và Dịch vụ 6,84%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2019 dự kiến tăng 3,13% (so với Kế hoạch khoảng 4%) (Chi tiết tại bảng 1).

Bảng 1. Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam năm 2019

CHỈ TIÊU

ĐƠN VỊ

NĂM 2019

CẢ NĂM 2019

QI

QII

QIII

QIV

I. Tăng trưởng kinh tế

- Chung

%

6,79

6,71

6,86

6,88

6,86

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

%

2,68

2,19

3,11

3,34

3,02

- Công nghiệp – Xây dựng

%

8,63

9,14

8,91

8,31

8,61

- Dịch vụ

%

6,5

6,85

6,97

7,01

6,84

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phầm

%

6,12

6,25

6,43

6,41

6,31

II. Chỉ số giá tiêu dùng

- So với tháng 12

%

100,69

101,41

102,65

103,84

103,84

- Bình quân so với cùng kỳ năm trước

%

102,63

102,65

102,80

104,45

103,13

III. Xuất nhập khẩu

- Tổng kim ngạch xuất khẩu

Tỷ USD

58,86

63,86

68,82

72,45

263,97

- Tổng kim ngạch nhập khẩu

Tỷ USD

57,45

65,39

70,23

72,82

265,81

- Xuất khẩu ròng

Tỷ USD

1,41

-1,45

-1,41

-0,37

-1,84

IV. Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Vốn thực hiện

Tỷ USD

4,12

4,98

5,79

6,10

21,7

 

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), 6/2019

Một số kiến nghị

Để duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế như mục tiêu đề ra đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, đặc biệt là các bộ đóng vai trò quan trọng trong quản lý điều hành kinh tế. Cần tiếp tục thực hiện đồng bộ giải pháp đã được đề cập tại Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ ngày 01/01/2019, tập trung một số lĩnh vực như sau: (1) Tiếp tục thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. (2) Tăng cường các biện pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Tận dụng tối đa nguồn vốn đầu tư nước ngoài đang có xu hướng chuyển dịch vào Việt Nam do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. (3) Tăng cường công tác dự báo, cảnh báo, chủ động phòng tránh, ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại áp dụng lên hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Tìm kiếm khả năng mở rộng các thị trường xuất khẩu mới còn tiềm năng đồng thời củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường truyền thống, thị trường là đối tác FTA (đặc biệt đối với các mặt hàng có xu hướng tăng trưởng tốt như dệt may, da giày, đồ gỗ); tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu đặc biệt là nông sản, thủy sản thâm nhập vào các thị trường mới. (4) Kiểm soát lạm phát trên cơ sở theo dõi sát diễn biến giá dầu thế giới và tính toán lộ trình, phạm vi tiếp tục điều chỉnh tăng giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý (như giá dịch vụ y tế, giáo dục); tránh điều chỉnh tập trung vào một thời điểm trong năm. (5) Thực hiện chính sách tiền tệ theo hướng thận trọng hơn trong bối cảnh chính sách tiền tệ đã tương đối mở rộng trong những năm qua (tỷ lệ M2 và tín dụng/GDP hiện ở mức cao), không đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách mở rộng tín dụng, ưu tiên mục tiêu ổn định mặt bằng giá và lãi suất. Phấn đấu giảm lãi suất ở phân khúc một số lĩnh vực ưu tiên (như nông nghiệp nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa); giám sát chặt chẽ tín dụng tiêu dùng cho bất động sản, chứng khoán.

Chú thích:

[1]PMI toàn cầu tháng 2,3,4,5,6/2019 lần lượt ở các mức: 52,1; 52,7; 50,6; 51,2; 51,2 điểm. Nguồn: Markit economics.

[2] Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu các năm: 2011 là 5,92%; năm 2012 là 4,93%; năm 2013 là 4,90%; năm 2014 là 5,22%; năm 2015 là 6,32%; năm 2016 là 5,65%; năm 2017 là 5,83%; năm 2018 là 7,05%.

[3] Tăng trưởng khu vực dịch 6 tháng đầu năm 2012-2018 đạt lần lượt 6,11; 6,13; 5,82; 5,86; 6,47; 6,89 và 6,9%

[4] Cùng kỳ 2017, 2018 lần lượt đạt 19,1%; 16,6%. Nguyên nhân là do (i) cầu thế giới suy giảm, chỉ số triển vọng thương mại toàn cầu đã xuống mức thấp nhất trong vòng 9 năm qua[4]; (ii) kết quả sản xuất kinh doanh không khả quan của Samsung đang kéo lại tăng trưởng xuất khẩu; (iii) xuất khẩu nông sản gặp khó khăn do cầu từ thị trường Trung Quốc giảm.

[5] CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2018 là 3,29%, năm 2017 là 4,15%.

[6] Mức tăng của cùng kỳ năm 2018 là khoảng 6,22%, năm 2017 là 7,01% - NHNN

[7] Năm 2016 là 122% và 2017 là 130% GDP - NHNN

[8] Mỹ chính thức áp thuế 25% lên 200 tỷ hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ ngày 10/5/2019

[9] Trên thực tế, đà suy giảm kinh doanh của Samsung bắt đầu từ cuối năm 2017 và xuyên suốt cả năm 2018. Báo cáo từ hai hãng nghiên cứu thị trường IDC và Strategy Analytics đều chỉ ra doanh số smartphone Samsung giảm khoảng 13% trong quý 3/2018, sau khi giảm 10% quý 2, 2% quý 1 và 4% quý 4/2017. Với kỳ vọng đưa ra dòng điện thoại S10, số lượng điện thoại sản xuất và xuất khẩu của Samsung sẽ tăng mạnh trong các tháng tới. Một số dự báo cho thấy tăng trưởng điện thoại Galaxy S10 sản xuất chủ yếu ở Việt Nam (70%) sẽ có sự tăng trưởng cao hơn khoảng 10% so với lượng tiêu thụ S9 năm 2018.

[10] NCIF dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019 đạt 3,44% - thấp hơn tăng trưởng 3,83% của năm 2018.

[11] NCIF dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2019 của Mỹ đạt 2,44% (năm 2018 là 2,9%), của khu vực đồng Euro là 1,34% (năm 2018 là 1,8%), của Nhật Bản là 0,94% (năm 2018 là 0,8%).

[12] Được xem là “bốn đám mây đen” được IMF nêu ra tại hội nghị Hội nghị Thượng đỉnh chính phủ toàn cầu lần thứ 7

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: TS. Trần Thị Hồng Minh - Giám đốc NCIF
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202