Tin Kinh tế- xã hội

Một số chỉ số môi trường tổng hợp

Cập nhật lúc: 18/04/2019 09:00:00 AM

Quá trình phát triển kinh tế đã, đang và sẽ gây ra những biến đổi lớn về môi trường như: trái đất nóng lên, suy thoái tài nguyên và hệ sinh thái… Những biến đổi đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình phát triển bền vững chung của tất cả các quốc gia trên thế giới. Do đó, rất nhiều chỉ số đã được nghiên cứu và đưa vào sử dụng để đo lường mức độ biến đổi của môi trường, làm cơ sở cho việc đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp nhằm giảm nhẹ những tác động tiêu cực tới môi trường. Một số chỉ số hiện đang được sử dụng phổ biến gồm: chỉ số bền vững môi trường, chỉ số hiệu quả môi trường, chỉ số dấu chân sinh thái, chỉ số hành tinh hạnh phúc và chỉ số tổn thương môi trường.

1. Chỉ số bền vững môi trường (Environmental Sustainable Index-ESI)

Chỉ số bền vững môi trường (ESI) là một chỉ tiêu môi trường tổng hợp được tính toán dựa trên các chỉ thị chọn lọc đặc trưng cho tính bền vững về mặt môi trường. Chỉ số này được xây dựng năm 1999 do giáo sư Daniel C. Esty hợp tác với trường đại học Yale, trường Đại học Columbia và Diễn đàn Kinh tế thế giới thực hiện.

ESI được xây dựng nhằm theo dõi, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, môi trường, thể chế và mô tả đặc điểm cùng những ảnh hưởng của các lĩnh vực đó đến tính bền vững môi trường ở mỗi quốc gia. ESI giúp định lượng hóa sự bền vững của môi trường, thể hiện qua các con số rõ ràng và có cơ sở khoa học. Vì vậy, các nhà lãnh đạo, các cơ quan hoạch định chính sách, các chuyên gia môi trường có thể dễ dàng sử dụng chỉ số này để đánh giá mức độ bền vững của môi trường và hoạch định chính sách tối ưu.

Tại Việt Nam, năm 2007, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã thực hiện việc “xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững về tài nguyên và môi trường ở Việt Nam” và dựa trên bộ chỉ thị đó để tính toán chỉ số đánh giá tính bền vững theo ESI. Bên cạnh đó, theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, 31 chỉ tiêu về bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu đã được ban hành. Đây là một cơ sở quan trọng phục vụ nghiên cứu đề xuất các chỉ tiêu tính ESI cho các tỉnh của Việt Nam, đồng thời là nguồn cung cấp số liệu chính để tính ESI Việt Nam.

2. Chỉ số hiệu quả môi trường (Environmental Performance Index-EPI)

Chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) được trường Đại học Yale và Columbia thực hiện từ năm 2006 đến nay. EPI được thực hiện thông qua ma trận minh bạch, điều này giúp cho các nhà lãnh đạo có thể biết được điểm mạnh, điểm yếu của quốc gia mình so với các quốc gia khác về thực trạng của môi trường.

Mục đích chính của FPI là cải thiện cơ sở dữ liệu đo lường bảo vệ môi trường trong dài hạn và tạo điều kiện thuận lợi tăng chất lượng báo cáo phân tích. EPI xác định điểm chuẩn cần đạt được cho các chính sách môi trường chính và xác định khoảng cách các quốc gia cần khắc phục để đạt được những điểm chuẩn đó. EPI tập trung vào thực trạng môi trường hơn là đo lường về phát triển bền vững. Chỉ tiêu tập trung phân tích vào hai vấn đề bao trùm là: (1) giảm căng thẳng về môi trường đối với sức khỏe con người và (2) thúc đẩy sự sống của hệ sinh thái và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Tại nước ta, Tổng cục Môi trường đã phối hợp với Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, các đơn vị, tổ chức và các chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế nghiên cứu, xây dựng Bộ chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của các địa phương. Bộ chỉ số được xây dựng nhằm góp phần đánh giá, so sánh kết quả thực hiện công tác bảo vệ môi trường của các địa phương; nhận diện điểm mạnh, điểm yếu trong chính sách để có phương án điều chỉnh phù hợp. Bộ chỉ số dự kiến ban hành trong tháng 4/2019.

3. Chỉ số dấu chân sinh thái (Ecological footprint Index-EFI)

Dấu chân sinh thái là thuật ngữ bắt đầu được sử dụng vào năm 1990 bởi hai nhà khoa học Mathis Wackernagel và William Rees thuộc trường Đại học British Columbia. Chỉ số dấu chân sinh thái (EFI) là một chỉ số tổng hợp đo lường nhu cầu của con người về nguồn tài nguyên thiên nhiên cho quá trình phát triển của loài người. Cụ thể, EFI tính đến các  nhu cầu về diện tích đất, nước cần thiết để tạo ra nguồn tài nguyên cho tiêu dùng, hấp thụ khí CO2, chứa đựng và đồng hóa chất thải trong điều kiện công nghệ hiện hành tại mỗi quốc gia. Hiện nay, EFI đang được các nhà khoa học, các doanh nghiệp, các chính phủ, các cơ quan, các cá nhân và tổ chức sử dụng rộng rãi để giám sát sử dụng tài nguyên sinh thái và thúc đẩy phát triển bền vững.

Theo dữ liệu tính toán của tổ chức Global Footprint Network, năm 2014, EFI của Việt Nam là 1,7gha/người trong khi độ bền sinh học là 1gha/người. Do đó, Việt Nam nằm trong nhóm nước có sự thâm hụt sinh thái quốc gia, tức là đã khai thác và sử dụng tài nguyên quá nhiều, vượt quá mức độ tái tạo của trái đất. Tuy nhiên, chỉ số dấu chân sinh thái của Việt Nam vẫn thuộc nhóm thấp, xếp thứ 133/188 trong danh sách chỉ số dấu chân sinh thái của các quốc gia trên thế giới do tổ chức trên thống kê.

4. Chỉ số hành tinh hạnh phúc (Happy Planet Index-HPI)

Chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) là chỉ số do tổ chức NEF (New Economics Foundation) công bố. HPI dùng để đánh giá mức độ thỏa mãn cuộc sống của người dân ở từng quốc gia, tương quan với tỉ lệ khai thác tài nguyên phục vụ cho sự phát triển của quốc gia đó. HPI được tính dựa trên ba tiêu chí: tỷ lệ thuận với tuổi thọ trung bình và mức độ hài lòng về cuộc sống; tỷ lệ nghịch với chỉ số dấu chân sinh thái. Do vậy, đây không phải là chỉ số thuần túy đo sự hạnh phúc của quốc gia. Một quốc gia có tuổi thọ cao và cuộc sống đạt được mức độ hài lòng lớn nhưng sử dụng quá nhiều tài nguyên thiên nhiên thì chưa chắc đã có HPI cao. Ngược lại, với một nước có HPI cao chưa chắc là một quốc gia hạnh phúc thực sự mà có thể chỉ chứng tỏ họ không khai thác và sử dụng quá nhiều tài nguyên thiên nhiên, giúp chỉ số dấu chân sinh thái đủ thấp để đạt sự bền vững về môi trường.

Kết quả thống kê HPI năm 2016, Việt Nam là một trong năm quốc gia có HPI cao nhất thế giới. Mặc dù mức độ hài lòng về cuộc sống người Việt chưa cao (5,5/10) nhưng tuổi thọ trung bình cao (75,5 năm) và chỉ số dấu chân sinh thái vẫn đạt mức thấp so với các quốc gia khác. Do vậy, Việt Nam có chỉ số HPI khá ấn tượng.

5. Chỉ số tổn thương môi trường (Environmental Vulnerability Index-EVI)

Chỉ số tổn thương môi trường (EVI) được xây dựng vào năm 2005 bởi Ủy ban khoa học địa lý ứng dụng khu vực Nam Thái Bình Dương (SOPAC), Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và các đối tác khác. Chỉ số này cung cấp một phương pháp đánh giá nhanh chóng và chuẩn hóa các đặc trưng tổn thương một cách tổng thể. Quy mô phát triển của một quốc gia là phù hợp nếu các việc bảo vệ môi trường luôn song hành với các quyết định quan trọng về chính sách kinh tế, xã hội và hành vi văn hóa, bởi môi trường là nền tảng của sự sống, hỗ trợ cho con người, là một phần đảm bảo sự thành công của phát triển. Chỉ số này được dùng kết hợp với các chỉ số tổn thương về kinh tế và xã hội để cung cấp thông tin sâu về những tác động ảnh hưởng đến phát triển bền vững của quốc gia nhằm xây dựng kế hoạch phát triển bền vững.

Tính tổn thương môi trường được nghiên cứu tại Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ XX tới nay, điển hình là các nghiên cứu của GS. TS. Mai Trọng Nhuận và cộng sự. Kết quả của những nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng trong chính sách, chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), giảm thiểu tác động do BĐKH đến tài nguyên – môi trường và là cơ sở khoa học cho đánh giá môi trường chiến lược.

Tài liệu tham khảo

  1. Ian Moffatt (2000), Ecological footprints and sustainable development
  2. NEF (2016), The Happy Planet Index 2016
  3. GS. TS. Phan Văn Tân (2016), Báo cáo Tổng kết Dự án nghiên cứu thí điểm “Nghiên cứu thủy tai do biến đổi khí hậu và xây dựng hệ thống thông tin nhiều bên tham gia nhằm giảm thiếu tính dễ bị tổn thương ở Bắc Trung Bộ Việt Nam”, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
  4. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà nội (2012), Những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu
  5. ThS. Vũ Thị Thu Thủy (2012-2013), Nghiên cứu ứng dụng tính chỉ số bền vững môi trường áp dụng cho Việt Nam, Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường
  6. Yale University, Columbia University, World Economic Forum (2005), 2005 Environmental Sustainable Index
  7. Yale University, Columbia University (2018), 2018 EPI Report
Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Hải Ngân ( Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202