Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Thực trạng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam

Cập nhật lúc: 12/04/2019 09:00:00 AM

Việt Nam tham gia và phê chuẩn Công ước Khung Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1994. Là thành viên của Nghị định thư Kyoto bắt đầu từ 2002, Việt Nam được xếp vào danh sách các quốc gia không nằm trong Phụ lục I  và không có nghĩa vụ phải cắt giảm khí nhà kính (KNK).

Sau khi tham gia UNFCCC, Việt Nam thực hiện các cuộc kiểm kê KNK thông qua việc xây dựng Thông báo quốc gia (NC) và Báo cáo cập nhật hai năm một lần cho UNFCCC (BUR). Đến nay, Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng NC lần thứ nhất và thứ hai, BUR1 và BUR2.

Về thực tế phát thải KNK, Việt Nam là nước có tổng lượng phát thải thấp trên toàn cầu, cụ thể là năm 2013 chỉ phát thải khoảng 259 triệu tấn CO2e trong tổng số 36 tỉ tấn CO2e phát thải của thế giới (tương đương khoảng 0,72%). Mức phát thải bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn Trung Quốc, Hàn Quốc và Thái Lan, song đang tăng với tốc độ nhanh hơn so với các quốc gia này. Cụ thể, mức phát thải bình quân đầu người đã tăng gần 6 lần, từ 0,3 tấn CO2/người năm 1990 lên 1,71 tấn CO2/người năm 2010, trong khi Trung Quốc tăng 3 lần, Hàn Quốc tăng 2,5 lần và Thái Lan tăng 2 lần (Profeta & Daniels 2005). Tình hình phát thải trong từng ngành của Việt Nam như sau:

1.       Năng lượng

Trong lĩnh vực năng lượng tại Việt Nam, KNK chủ yếu được phát thải từ quá trình đốt nhiên liệu và phát tán trong quá trình khai thác, vận chuyển nhiên liệu. Tổng lượng KNK phát thải trong ngành năng lượng năm 2013 là 151,4 triệu tấn CO2e. Trong đó, hoạt động đốt nhiên liệu xảy ra phổ biến ở các ngành sản xuất điện, công nghiệp và xây dựng, giao thông vận tải, nông nghiệp/ lâm nghiệp/thủy sản và một số ngành khác. Đây là hoạt động chủ yếu sinh ra KNK, chiếm khoảng 86,1% tổng lượng phát thải KNK toàn quốc (MONRE 2017). Trong đó, với việc tiêu thụ số lượng lớn nhiên liệu (chiếm khoảng 60% tổng nhiên liệu tiêu thụ , các hoạt động giao thông vận tải cũng phát thải một lượng không nhỏ KNK vào trong khí quyển. Hiện nay, một năm trung bình ngành giao thông vận tải phát thải khoảng 30 triệu tấn CO2e. Lượng phát thải tăng nhanh qua các năm, tăng hơn 2 lần từ 12,58 triệu tấn CO2e (năm 2000) lên 29,7 triệu tấn CO2e (năm 2013). Trong đó, phát thải giao thông đường bộ chiếm đến 90,9 %, phát thải giao thông đường sắt, đường thủy và đường hàng không chiếm gần 10%. Ngành hàng không dân dụng cũng có lượng phát thải KNK đáng kể và ngày càng tăng.

2.       Quá trình và các sản phẩm công nghiệp

Đối với quá trình công nghiệp, các loại hình sản xuất công nghiệp chính sinh ra KNK là sản xuất xi măng, sản xuất vôi, sản xuất amoni và sản xuất sắt thép. Tổng lượng KNK phát thải trong sản xuất công nghiệp năm 2013 là 31,8 triệu tấn CO2e. Trong đó, ngành sản xuất xi măng có lượng phát thải nhiều nhất, chiếm khoảng 88,8% tổng phát thải của sản xuất công nghiệp. Đây là ngành sử dụng rất nhiều năng lượng và tạo ra nhiều khí thải do đòi hỏi nhiệt độ cực cao.

3.       Nông nghiệp

Theo kết quả kiểm kê KNK năm 1994 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, lượng KNK phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp là 52,45 triệu tấn CO2e, chiếm 50,5% tổng lượng KNK phát thải của cả nước. Đến năm 2013, lượng KNK phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp là 89,4 triệu tấn CO2e, chiếm 34,5% tổng lượng KNK phát thải của cả nước. Trong đó, ngành Canh tác lúa và Đất nông nghiệp phát thải nhiều nhất, chiếm tương ứng 50% và gần 27% tổng lượng phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp năm 2013 (MONRE 2017). Trồng lúa là ngành đóng góp lớn nhất vào tổng lượng KNK phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp do đây là ngành phát thải lượng lớn khí mê-tan (CH4) và ô xít ni-tơ (N2O).

4.       Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp

Theo Hướng dẫn thực hành tốt trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp năm 2003, đất trên lãnh thổ Việt Nam được phân thành sáu loại gồm đất rừng, đất trồng trọt, đất đồng cỏ, đất ngập nước, đất ở và các loại đất khác. Phát thải/ hấp thụ KNK trong lĩnh vực này là quá trình thay đổi trữ lượng các-bon trong: i) sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất; ii) chất thải hữu cơ (cây chết, cành lá rụng) và iii) đất. Lĩnh vực LULUCF đã bắt đầu chuyển dần từ việc phát thải KNK sang hấp thụ KNK từ năm 2010. KNK phát thải trong lĩnh vực này giảm từ 19,4 triệu tấn CO2e năm 1994 xuống còn 15,1 triệu tấn CO2e năm 2000. Trong khi lượng hấp thụ KNK tăng lên 34,2 triệu tấn CO2e vào năm 2013. Trong đó, đất rừng và đất trồng trọt là nguồn hấp thụ CO2e lớn nhất (MONRE 2017).

5.       Chất thải

          Tại Việt Nam những năm gần đây mỗi năm có khoảng trên 15 triệu tấn chất thải rắn được thải ra từ các nguồn khác nhau, trên 80% chất thải rắn là từ các khu đô thị. Tuy nhiên, mới chỉ có trên 70% chất thải rắn ở khu vực đô thị và khoảng 20% ở khu vực nông thôn được thu gom và xử lý. Trong khi phát thải KNK của lĩnh vực này chủ yếu bao gồm: phát thải CH4 từ các bãi chôn lấp chất thải rắn được thu gom; từ nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt; phát thải N2O từ bùn cống nước thải sinh hoạt; phát thải CO2 và N2O từ quá trình đốt chất thải.

Nhìn chung, phát thải từ lĩnh vực chất thải chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Tổng lượng phát thải KNK của lĩnh vực này năm 2013 là 20,7 triệu tấn CO2e, chiếm 7% trong cơ cấu tổng phát thải quốc gia. Trong đó, nước thải đô thị có thị phần phát thải KNK lớn nhất, chiếm 45,6%. Phát thải CH4 từ các bãi chôn lấp rác thải chiếm 35,9% (MONRE 2017).

  Nhìn chung, trong giai đoạn 1994-2013, tổng lượng KNK đã tăng hơn gấp đôi, từ 103,8 triệu tấn CO2e lên 259 triệu tấn CO2e. Trong đó, lượng khí thải trong lĩnh vực năng lượng có lượng tăng đáng kể, gấp khoảng 6 lần so với năm 1994 do nhu cầu về năng lượng tăng nhanh. Đáng chú ý là lĩnh vực LULUCF đã bắt đầu chuyển dần từ việc phát thải KNK sang hấp thụ KNK từ năm 2010. Đây là kết quả của các chương trình bảo vệ rừng và trồng rừng hiệu quả được thực hiện trong những năm trước đó.

Phát thải/ hấp thụ KNK theo lĩnh vực (triệu tấn CO2e)

Nguồn: MONRE, 2017

* Đã cập nhật so với BUR1

Số liệu về kiểm kê KNK tính đến thời điểm này cho thấy năng lượng và nông nghiệp là hai lĩnh vực hiện đang có tỷ trọng phát thải KNK lớn nhất. Song song với phát triển kinh tế, phát thải từ năng lượng có xu hướng tăng nhanh trong những năm tới cả về tổng lượng cũng như tỷ trọng trong cơ cấu phát thải KNK. Dự báo đến năm 2020 và 2030, lĩnh vực năng lượng vẫn là nguồn phát thải KNK lớn nhất.

Tài liệu tham khảo

1.       Ministry of natural resources and environment (MONRE), 2017, “The second biennial updated report of Viet Nam to the united nations framework convention on climate change”, Viet Nam publishing house of natural resources, environment and cartography, Ha Noi.

2.       Profeta, T. & Daniels, B., 2005, “Design principles of a cap and trade system for greenhouse gases”, Nicholas Institute for Environmental Policy Solutions, Duke University.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Hà Linh (Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202