Tin Kinh tế- xã hội  > Xã hội

An sinh xã hội cho lao động di cư

Cập nhật lúc: 09/04/2019 11:00:00 AM

Di cư là tất yếu, trong đó di cư nội địa có những đóng góp quan trọng và không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội của Việt Nam. Với việc đáp ứng phần lớn nhu cầu việc làm do phát triển khu công nghiệp và đầu tư trực tiếp và chuyển một phần tiền thu nhập về những khu vực nghèo hơn ở Việt Nam, di cư đã tạo ra cơ hội đáng kể cho sự phát triển đồng đều hơn và rộng rãi hơn, góp phần giảm sự chênh lệch giữa các vùng miền (UNDP, 2012).

1. Thực trạng lao động di cư tại Việt Nam

Di cư nội địa ở Việt Nam tăng dần theo thời gian. Trong các luồng di cư, di cư từ nông thôn ra thành thị chiếm tỷ lệ lớn nhất(1).Người di cư ra thành thị chủ yếu đến các khu công nghiệp để tìm việc làm, xu hướng này bắt nguồn từ quá trình đô thị hoá và sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, khu chế xuất làm giảm bớt đáng kể diện tích đất đai sản xuất. Ngoài ra, quá trình chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, xoá bỏ quy định giới hạn phát triển của nền kinh tế tư nhân là những yếu tố hàng đầu thúc đẩy người lao động di cư hiện nay.

Theo Tổng cục Thống kê,(2) năm 2015, 13,6% tổng dân số là người di cư,trong đó, người di cư trong nhóm tuổi từ 19-59 tuổi  chiếm17,3%. Di cư chủ yếu vì lý do học tập và lao động nên phần lớn người di cư có độ tuổi 15-39 tuổi, chiếm tỷ trọng 84% so với tổng số người di cư.  Những vùng có điều kiện kinh tế thuận lợi có tỷ lệ người di cư đến rất cao, ví dụ vùng Đông Nam Bộ có tỷ trọng người di cư đang làm việc cao nhất nước (87,8%); tiếp theo là Đồng bằng sông Hồng (81%)… Hiện tượng “nữ hóa” di cư đang gia tăng, với 52,4% người di cư là nữ.

Lao động di cư thường gặp khó khăn về tiếp cận các dịch vụ xã hội, có 90% lao động di cư gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội công, 70% không tiếp cận được các dịch vụ y tế công và chỉ có 44% có bảo hiểm y tế và sử dụng bảo hiểm thẻ y tế(3).

Tỷ lệ người lao động di cư có bảo hiểm y tế thấp một phần do nhận thức, một phần do gặp khó khăn về hộ khẩu và thủ tục phức tạp nên khó khăn khi mua(4). Nhóm lao động này thường tập trung trong khu vực phi chính thức, làm các công việc như thu gom rác, bán hàng rong, giúp việc trong gia đình hoặc các cơ sở dịch vụ nhỏ lẻ… Họ không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm y tế để hỗ trợ giảm thiểu những rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già...

Bên cạnh đó hầu hết lao động phi chính thức thường không có bảo hiểm xã hội chiếm 97,9% và chỉ có 0,2% được đóng BHXH bắt buộc, còn lại 1,9% đóng BHXH tự nguyện, điều này dễ dẫn đến tình trạng người lao động không có cơ hội thụ hưởng những chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, nhất là khi hết độ tuổi lao động.

2. Tăng cường an sinh xã hội cho người lao động di cư

Nâng cao hoạt động truyền thông tại nơi làm việc và nơi cư trú. Người lao động di cư ít có cơ hội tiếp cận về thông tin, chính sách an sinh xã hội. Đa số người lao động di cư không biết nơi nào cung cấp thông tin và tư vấn về Lao động và bảo hiểm xã hội cho mình. Cũng chưa có chương trình truyền thông đại chúng chính thức dành riêng cho cộng đồng người di cư. Hiện tại, sinh hoạt cộng đồng tại nơi tạm trú là một kênh thông tin quan trọng về các chính sách an sinh xã hội cho người lao động di cư.

Tạo việc làm tại khu vực nông thôn sẽ làm giảm dòng người lao động di cư,  bằng nhiều cách khác nhau trong đó hiện đại hóa nông nghiệp và thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp phân tán về khu vực nông thôn là phù hợp với đặc điểm kinh tế hiện nay. Cũng cần hỗ trợ người dân di cư trở về thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh tại cộng đồng địa phương, nhằm tận dụng những kỹ năng và kiến thức mà họ thu nhận được. Để làm được điều này cần có hệ thống chính sách hỗ trợ, tác động riêng cho từng nhóm đối tượng để chính thức hóa việc làm, tạo cơ hội việc làm bền vững, đồng thời phải có giải pháp trước mắt và lâu dài để hỗ trợ nhóm đối tượng này tiếp cận với chính sách an sinh xã hội, hướng tới bình đẳng cho người lao động khu vực này.

Có chính sách khuyến khích các hoạt động kinh tế phi chính thức vươn lên để gia nhập khu vực chính thức, trong đó tập trung vào việc ban hành các chương trình hành động cụ thể khuyến khích các hộ kinh doanh cá thể phát triển thành doanh nghiệp,tạo điều kiện ổn định cho người lao động di cư thông qua bảo trợ xã hội và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

 Xây dựng chế độ đảm bảo an sinh xã hội toàn dân, dựa trên việc đảm bảo công khai, minh bạch, có sự tham gia Nhà nước trong việc hỗ trợ lao động phi chính thức tham gia BHXH.

Tuyên truyền và tạo điều kiện để người lao động tham gia BHXH tự nguyện,  xây dựng đề án hỗ trợ người dân tham gia BHXH tự nguyện, trong đó tập trung vào nghiên cứu nhu cầu tham gia, đánh giá khả năng tham gia của người lao động nói riêng và người dân nói chung để tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách có liên quan ngày một phù hợp hơn và hấp dẫn người dân trong việc tham gia BHXH tự nguyện./.

Danh mục tài liệu tham khảo

 


(1) Năm 2015, người di cư chiếm 19,7% dân số của khu vực thành thị và 13,4% dân số ở nông thôn

(2) Theo kết quả Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015

(3) Hội thảo Chia sẻ kết quả Nghiên cứu và thực hiện các chương trình An sinh Xã hội(actionid, 2014)

(4) Báo cáo của Oxfam về Rào cản pháp lý và thực tiễn đối với người lao động di cư trong tiếp vận an sinh xã hội 2015

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Đặng Đức Anh( Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202