Tin Kinh tế- xã hội

Những thách thức của nền nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

Cập nhật lúc: 11/04/2019 09:39:44 AM

Việt Nam đã có những bước tiến rất lớn trong sản xuất nông nghiệp cũng như chuỗi giá trị ngành hàng nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên tới đây, để xác định hàng nông sản Việt Nam tham gia sâu hơn chuỗi nông sản giá trị toàn cầu là những thách thức rất lớn. Đó là nhận định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường trong một hội nghị gần đây.

Theo ông Nguyễn Xuân Cường, Việt Nam sau quá trình đổi mới, đặc biệt là năm 2018, sản xuất nông sản Việt Nam không chỉ đáp ứng được nhu cầu của gần 100 triệu dân mà còn tạo ra khối lượng sản phẩm xuất khẩu tới 42 tỷ USD, trong đó có 10 nhóm ngành hàng nông nghiệp có giá trị xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên. Phải khẳng định, đây là một bước tiến rất lớn trong sản xuất nông nghiệp cũng như chuỗi giá trị ngành hàng nông sản của Việt Nam.

Tuy nhiên năm 2019 và thời gian tới, để hàng nông sản tham gia sâu hơn chuỗi nông sản giá trị toàn cầu là thách thức rất lớn. Có thể nói về ba nhóm thách thức cơ bản:

Thứ nhất, nông nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán nên chưa đáp ứng được yêu cầu về sản xuất hàng hóa quy mô lớn và tiêu chuẩn cao từ thị trường quốc tế; đòi hỏi phải tiếp tục tổ chức lại nền sản xuất dựa trên hộ nhỏ lẻ với 8,6 triệu hộ thành một nền nông nghiệp tập trung hướng đến hàng hóa, có quản trị.

Thứ hai, thách thức, nguy cơ còn đến từ tác động của biến đổi khí hậu. Việt Nam là 1 trong 5 nước tổn thương lớn nhất về biến đổi khí hậu. Trong giai đoạn 2015-2018, mỗi năm Việt Nam thiệt hại từ 1-2 tỷ USD từ thiên tai. Chúng ta phải tổ chức nền sản xuất nông nghiệp để thích ứng được với biến đổi khí hậu. Việt Nam phải có những giải pháp tổng thể, lựa chọn đối tượng sản xuất cho đến quy trình, các bước khác với phương châm là biến bất lợi thành lợi thế. Đây mới là lựa chọn khôn ngoan.

Thứ ba, đến từ quá trình hội nhập sâu rộng. Việt Nam có xuất phát điểm thấp khi GDP bình quân đầu người mới đạt 2.574 USD, so với các nước có tiềm năng rất lớn về kinh tế, về khoa học kỹ thuật và bối cảnh thị trường mở là một sự cạnh tranh khốc liệt.

Kể từ sau năm 2008 khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra, các nước có xu hướng chung là tập trung chăm lo, ưu tiên đầu tư cho khu vực nông nghiệp, lấy đây là khu vực để không chỉ đảm bảo sự ổn định an ninh chung mà còn là một hướng ưu tiên số 1. Vì thế, khi Việt Nam muốn tham gia xuất khẩu chuỗi giá trị toàn cầu phải chịu áp lực cạnh tranh rất quyết liệt. Trước tình hình đó đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, chế ngự được 3 nút thắt, tồn tại, bất cập lớn này mới mong hàng nông sản Việt xuất khẩu tốt hơn, thúc đẩy cho sản xuất phát triển.

Nói về vấn đề sự phối hợp đa ngành để thúc đẩy phát triển nông nghiệp, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng đưa ra quan điểm, muốn nền nông nghiệp phát triển thì không chỉ là nhiệm vụ của riêng đơn vị, tổ chức nào mà đòi hỏi sự vào cuộc chung của cả ba trục. Một là khu vực Chính phủ, nói chung tiếp tục hoàn thiện thể chế làm sao tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân, DN tham gia quá trình sản xuất, kinh doanh thuận lợi nhất. Đây là trục thứ nhất về các nhóm giải pháp. Đi đôi với hoàn thiện thể chế là cải cách hành chính thông thoáng nhất, tiện lợi nhất. Đây là việc của các bộ, ban, ngành. Trục thứ hai là trục các DN, hiệp hội ngành hàng. Trong hội nhập cũng như trong tổ chức hàng hóa hiện nay, nếu không có DN chắc chắn không thể có sự thành công. DN sẽ là hạt nhân trong chuỗi liên kết. Chúng ta hiện nay tự hào có 10.000 DN trực tiếp sản xuất trong khu vực nông nghiệp, có khoảng 49.000 DN chế biến tham gia ở những phân khúc khác nhau, tạo ra sản phẩm phụ trợ nông nghiệp. Chúng ta phải coi đây là một thành tố rất tốt để trên nền tảng đó phát triển nhiều hợp tác xã theo chương trình phát triển 5 vạn hợp tác xã từ nay đến năm 2020, thành sự liên kết. Một trong những thành tố liên quan là người dân. Người dân không thể đứng đơn lẻ. Một mình không thể hội nhập được, không thể sản xuất hàng hóa cung ứng cho thị trường 100 triệu dân đòi hỏi ngày càng cao mà phải tuân thủ bằng sự liên kết của chính mình, phải vào hợp tác xã, thành lập hợp tác xã, phải khởi nghiệp. Trục thứ ba chính là sự vào cuộc của Chính phủ. Việc đưa ra các chính sách phù hợp để doanh nhân và người dân cùng đồng hành trên cơ sở tăng cường hợp tác quốc tế, tin tưởng là vô cùng quan trọng. Làm sao 8,6 triệu hộ nông dân liên kết chặt chẽ với 5 vạn hợp tác xã với hơn 10.000 DN hiện tại và tới đây sẽ từng bước có những chính sách thu hút thêm. Như vậy, chúng ta mới hình thành được sự liên kết chặt chẽ giữa khu vực sản xuất, khu vực chế biến và tổ chức thị trường. Đây là những nhóm giải pháp giúp Việt Nam tiếp tục thành công trong cuộc hội nhập tới đây về nông sản.

 

 

         

Trích nguồn:chinhphu.vn/ baohaiquan.vn
Tác giả: Lê Ninh (tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202