Phân tích và Dự báo > Báo cáo tháng

Tình hình kinh tế xã hội trong nước hai tháng đầu năm 2019

Cập nhật lúc: 04/03/2019 02:28:23 PM

1. Kinh tế xã hội trong nước hai tháng đầu năm 2018

a. Tăng trưởng kinh tế tiếp tục có dấu hiệu tích cực trên cả ba khu vực kinh tế: - Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục xu hướng cải thiện:

Trong tháng 2/2019 khu vực nông, lâm, thủy sản tiếp tục phát triển tốt. Sản xuất nông nghiệp tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa đông xuân và gieo trồng cây hoa màu trên cả nước. Chăn nuôi trong tháng nhìn chung ổn định, riêng đàn trâu giảm do diện tích chăn thả thu hẹp. Ước tính tháng Hai, đàn bò cả nước tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn tăng 3%; đàn gia cầm tăng 6%; đàn trâu giảm 2,8%. Đáng chú ý là dịch tả lợn châu Phi đã bùng phát ổ dịch tại bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Hưng Yên và Thanh Hóa; dịch lở mồm long móng ở lợn xảy ra tại một số địa phương, do đó các cấp, các ngành cần chủ động có biện pháp phòng chống dịch bệnh lây lan diện rộng, không để ảnh hưởng đến sản xuất, gây biến động giá và nguồn cung của thị trường lợn. Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng và chuẩn bị cho Tết trồng cây. Thời tiết tương đối thuận lợi cho việc nuôi trộng thủy sản, đặc biệt là thả nuôi tôm đạt khá. Bên cạnh đó, hoạt động đánh bắt cũng khá sôi nổi.Sản lượng thủy sản tháng Hai ước tính đạt 490,3 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 360,3 nghìn tấn, tăng 5,5%; tôm đạt 43,6 nghìn tấn, tăng 0,9%; thủy sản khác đạt 86,4 nghìn tấn, tăng 4,9%.

- Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định

Khu vực công nghiệp và xây dựng duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ động lực từ ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Tháng 2/2019, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành tháng 2/2018 ước tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành khai khoáng giảm 5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%.

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 1/2019  tăng ở mức vừa phải.  PMI đã đạt 51,9 điểm trong tháng 1, cho thấy các điều kiện kinh doanh cải thiện nhẹ. Cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều tăng nhẹ hơn trong tháng 1. Tăng trưởng vẫn còn mạnh khi các báo cáo cho thấy nhu cầu khách hàng cải thiện. Sản lượng đến nay đã tăng trong suốt 14 tháng qua. Cùng với mức tăng của tổng số lượng đơn đặt hàng mới, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng tiếp tục tăng, nhưng với tốc độ yếu hơn so với tháng 12.

- Hoat động dịch vụ sôi động trong thời điểm Tết Nguyên Đán

Bước sang tháng 2/2019 là thời điểm Tết Nguyên đán nên các hoạt động bán buôn, bán lẻ; dịch vụ lưu trú, ăn uống sôi động do người dân gia tăng mua sắm và xu hướng đi du lịch vào dịp Tết. Các doanh nghiệp, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị và cơ sở kinh doanh chủ động chuẩn bị nguồn hàng hóa dồi dào, phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

b. Lạm phát tăng

Trong tháng 2 lạm phát có mức tăng cao hơn do nhu cầu mua sắm vào dịp tết Nguyên Đán, nhất là các mặt hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã tăng 1,73% (trong đó riêng thực phẩm đã tăng hơn 2%) so với tháng trước, kéo theo chỉ số giá tiêu dùng tháng Hai đã tăng 0,8% so với tháng trước. Tính đến hết hai tháng đầu năm chỉ số CPI đã tăng 0,9% so với tháng 12 năm trước, và tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước.

c. Vốn đầu tư được đẩy nhanh thực hiện ngay từ những tháng đầu năm

Trong tháng 2 và 2 tháng đầu năm, các bộ, ngành, địa phương tập trung chủ yếu hoàn thiện việc phân bổ chi tiết kế hoạch vốn đầu tư công theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1897/QĐ-TTg ngày 31/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước thấp, ước tính đạt 30,22 nghìn tỷ đồng, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2018. Đồng thời, Chính phủ tích cực thực hiện các giải pháp nhằm huy động nguồn lực đầu tư trong xã hội và triển khai nhanh, quyết liệt công tác phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019; đẩy nhanh tốc độ thực hiện và giải ngân ngay từ những tháng đầu năm.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 2 tháng đầu năm 2019 đạt khá, ước tính đạt 2,58 triệu USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2018.

d. Tiêu dùng tăng nhẹ trong 2 tháng đầu năm

Tiêu dùng dân cư trong tháng 2 không có biến động đột biến so với tháng trước mà còn sụt giảm so với tháng trước do thời điểm mua sắm chuẩn bị Tết nguyên đán vào khoảng cuối tháng 1 và do kỳ nghỉ lễ dài đầu tháng 2. Doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 2 đạt 390,8 nghìn tỷ đồng, giảm 3% so với tháng 1 nhưng tính chung cả hai tháng đầu năm ước đạt 793,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt 9,28%, đây là mức tăng khá so với mức tăng 8,7% của cùng kỳ năm 2018. Mức tăng trưởng đạt được này chủ yếu là do đóng góp của doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 301,4 nghìn tỷ đồng trong tháng 2, đẩy mức tăng trưởng trong hai tháng đầu năm đạt 14,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn 4 điểm phần trăm so với mức tăng của doanh thu bán lẻ hàng hóa cùng kỳ năm 2018. Tuy vậy, tăng trưởng các ngành còn lại đều thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống, dịch vụ khác đều giảm so với tháng trước, lần lượt đạt 44,8 nghìn tỷ đồng và 40,7 nghìn tỷ đồng, như vậy cả hai tháng đầu năm tăng lần lượt là 5,7% và 4,9% so với cùng kỳ, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng 10,2% và 8,5% của cùng kỳ năm 2018. Doanh thu từ dịch vụ du lịch trong 2 tháng đầu năm tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, chỉ bằng 1/5 mức tăng của cùng kỳ năm 2018.

e. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá  tháng hai giảm nhẹ so với tháng trước

Trong tháng  2/2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá ước đạt 30,1 tỷ USD, tăng 1,64 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước và giảm 10,3 tỷ USD so với tháng 1/2019. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá đạt tương ứng 14,6 tỷ USD và 15,5 tỷ USD. Như vậy, tính trong tháng 2, cán cân thương mại hàng hoá nhập nhập siêu khoảng 0,9 tỷ USD.

Đối với xuất khẩu hàng hóa: Trong tháng 2, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 14,6 tỷ USD,  giảm 33,9% so với tháng trước và tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, do trong tháng 2/2019 có 9 ngày nghỉ lễ Tết Nguyên đán. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 3,68 tỷ USD, giảm 47,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,92 tỷ USD, giảm 27,4%; kim ngạch xuất khảu của hầu hết các mặt hàng đều giảm so với tháng 1. Cụ thể, trong tháng 2/2019, mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện giảm 23,9%; sắt, thép giảm 45,8%; giày dép giảm 49,1%; dệt may giảm 51,4%; thuỷ sản giảm 52,8%, gỗ và sản phẩm gỗ giảm 59,2%. So với tháng 2/2018, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tăng 1,6%; trong đó, khu vực kinh tế trong nước giảm 3,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,2%. Một số mặt hàng có giá trị tăng: dầu thô tăng 181,4%, hoá chất tăng 39,9%, thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 19,7%.

Tính chung cho 2 tháng đầu năm 2019, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước đạt 36,68 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,72 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 25,96%.

Về thị trường xuất khẩu, thị trường xuất khẩu chủ yếu vẫn là các thị trường truyền thống như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và trong đó, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu số 1 của Việt Nam với kim ngạch đạt 8,1 tỷ USD.

Đối với hàng hóa nhập khẩu: Trong tháng 2/2019, Việt Nam ước nhập khoảng 15,5 tỷ USD, giảm 27,1% so với tháng 1/2019 và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 6,2 tỷ USD, giảm 31,8% so với tháng trước, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9,3 tỷ USD, giảm 23,6% so với tháng trước và tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, các mặt hàng giảm mạnh là điện tử, máy tính và linh kiện (giảm 10,1%), điện thoại và linh kiện (giảm 22,2%), vải giảm 22,3%, chất dẻo giảm 34,9%.

Tính chung trong 2 tháng đầu năm 2019, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 36,76 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 15,29 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,47 tỷ USD. Về thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 10,7 tỷ USD.

Tóm lại, trong 2 tháng đầu năm Việt Nam đã thâm hụt khoảng 84triệu USD .

f. Thu ngân sách có xu hướng tích cực

Tình hình thu ngân sách tính đến 15/2/2019 vẫn được duy trì theo xu hướng tích cực. Cụ thể, tính đến 15/02/2019, tổng thu ngân sách ước đạt khoảng 10,41% so với dự toán thu ngân sách cả năm, cao hơn mức thu ngân sách của cùng kỳ năm 2018. Trong đó, các khoản thu như thu nội địa, thu từ dầu thô và thu từ cân đối xuất nhập khẩu cũng ước đạt tương ứng là 8,2%, 14,4% và 9,2% dự toán của cả năm. Trong thu nội đia, thu từ Doanh nghiệp Nhà nước và Doanh nghiệp FDI tương ứng đạt 7,1% và 7,9% so với dự toán cả năm.

Chi ngân sách đạt khoảng 10,5% dự toán cả năm, trong đó, Chi đầu tư phát triển, Chi phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể và Chi trả nợ và viện trợ tương ứng khoảng 3,6%, 10,8% và 14,9% dự toán năm.

 g. Lãi suất biến động trong tháng 2, tỷ giá tăng nhẹ

- Lãi suất huy động biến động trái chiều ở các ngân hàng thương mại

Trong tháng 2, ngay sau Tết nguyên đán, lãi suất huy động có diễn biến trái ngược nhau ở các phân khúc NHTM. Tại các NHTM tầm trung trở xuống, lãi suất huy động có xu hướng tăng (khoảng 0,3 điểm % ở hầu hết các kỳ hạn), giao động trong khoản 6,3-7,5% đối với các NH tầm trung, và từ trên 7,5% đến 8,7%/năm đối với các ngân hàng nhỏ. Trong khi đó, các NHTM cổ phần nhà nước (như: Vietinbank, BIDV,…) và một số ngân hàng lớn khác giảm lãi suất huy động (từ 0,1 đến 0,3 điểm %) ở nhiều kỳ hạn[1]. Mức lãi suất huy động ở nhóm các ngân hàng TMCP nhà nước tối đa ở mức 5,5%/năm.

Về phía điều hành của NHNN, cùng với hoạt động hút ròng tiền đồng, lãi suất liên ngân hàng trung bình những tuần sau tết cũng có xu hướng giảm mạnh tại các loại kì hạn: qua đêm, 1 tuần và 2 tuần với biên độ từ 0,34 đến 0,41 điểm %. Cụ thể, lãi suất trung bình kì hạn qua đêm giảm 0,41 điểm % về mức 4,7%/năm. Lãi suất trung bình kì hạn 1 tuần giảm 0,375 điểm % xuống mức 4,475%/năm. Lãi suất trung bình kì hạn 2 tuần giảm 0,34 điểm % về mức 4,55%/năm. Với động thái này của NHNN, cùng với việc duy trì mức lãi suất huy động thấp và giảm nhẹ ở các NHTM cổ phần nhà nước khiến cho lãi suất huy động chung trên thị trường chưa thể tăng lên mặt bằng mới như dự đoán trước đó.

Việc lãi suất huy động biến động trái chiều ở các nhóm ngân hàng một mặt phản ánh sự khác biệt về khả năng và nhu cầu huy động vốn của các tổ chức tín dụng hoặc có thể xuất phát từ định hướng điều chỉnh danh mục vốn, cơ cấu lại dòng tiền gửi và dòng vốn cho vay của các ngân hàng, mặt khác cũng cho thấy rõ ý chí, định hướng điều hành của NHNN, vai trò của các NHTM cổ phần nhà nước trong việc ổn định thị trường, ổn định lãi suất.

Ở chiều cho vay, mức lãi suất cho vay chưa có biến động mạnh. Lãi suất cho vay hiện phổ biến ở mức khoảng 7-9,5%/năm đối với kỳ cho vay ngắn hạn và 9,5-11%/năm đối với trung và dài hạn.

- Tỷ giá tăng USD/VND tăng nhẹ

Trong tháng 2, ngay khi giao dịch trở lại sau nghỉ Tết, tỷ giá trung tâm đã tăng từ 38-48 VND/1USD, tương đương với mức tăng 0,17-0,21% so với cuối tháng trước. Tính đến ngày 28/02/2019, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 22.915 VND/1USD.

Trên thị trường tự do, với các yếu tố hỗ trợ như: sự suy yếu của đồng USD trên thị trường thế giới cùng với việc Fed phát đi tín hiệu ngừng tăng lãi suất từ cuối tháng 1/2019, trong khi nguồn cung USD có tính mùa vụ khá dồi dào, dữ trữ ngoại hối gia tăng khi tháng 1 NHNN tiếp tục tăng dữ trữ thêm 4 tỷ USD,… đã khiến cho tỷ giá USD/VND giao dịch tự do những ngày gần đây đã giảm so với thời điểm ngay sau Tết và chỉ tăng nhẹ so với tháng 1. Tính đến cuối tháng 2 (ngày 28/2/2019), tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do được giao dịch ở mức khoảng 23.199, tăng nhẹ so với mức 23.195 tại thời điểm cuối tháng 1 (ngày 27/1/2019), và giảm so với mức 23.211 tại thời điểm sau Tết (11/2/2019).

2. Dự báo tình hình kinh tế xã hội trong thời gian tới

Tăng trưởng kinh tế trong năm 2019 được dự báo sẽ tiếp tục chuyển biến tích cực, kế thừa xu thế tăng trưởng từ năm năm 2018 nhờ sự gia tăng hoạt động trong các lĩnh vực chế tạo, xây dựng, thương mại, bán buôn và bán lẻ, ngân hàng và du lịch. Kinh tế và thương mại của thế giới dự báo duy trì đà tăng trưởng phục hồi của những năm trước nhưng với tốc độ chậm hơn, tạo thuận lợi hơn cho phát triển kinh tế và xuất khẩu. Tăng trưởng sẽ tiếp tục cải thiện ở cả ba động lực kinh tế, mạnh mẽ nhất là khu vực chế biến, chế tạo do kế thừa đà tăng trưởng của năm 2018.

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn những thách thức phía trước, kinh tế thế giới năm 2019 đối mặt với nhiều rủi ro thách thức tiềm ẩn, đặc biệt là chiến tranh thương mại giữa các nước lớn. Trong nước, các vấn đề nội tại của nền kinh tế vẫn là thách thức lớn như trình độ công nghệ thấp, đất đai, tài nguyên đang dần cạn kiệt trong khi năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có chuyển biến nhưng chưa thực sự đột phá. Thêm vào đó thị trường lao động Việt Nam năm 2019 sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang và sẽ tác động đến mọi mặt của nền kinh tế và xã hội, đặc biệt là thị trường lao động. Cuộc cách mạng này vừa là cơ hội, đồng thời cũng là thách thức đối với thị trường lao động Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực dệt may, điện tử, những ngành có nhiều lao động thủ công hoặc gắn với quá trình tự động hóa.

----------------------------------------------

[1] NH VietinBank giảm 0,3% ở hai kỳ hạn 6 và 12 tháng về mức lần lượt 5,5%/năm và 6,8%/năm. BIDV cũng giảm lãi suất kỳ hạn 5 tháng từ 5,5%/năm xuống còn 5,2%/năm. Tại VPBank, các khoản tiền gửi 6 tháng hiện chỉ còn có mức lãi suất 6,9%/năm thay vì mức 7%/năm trước đó. Ngân hàng ACB giảm lãi suất kỳ hạn 1 tháng xuống 5,1%/năm thay vì mức 5,2% áp dụng trước đó,…

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202