Phân tích và Dự báo

Kinh tế Việt Nam năm 2018 nhìn từ phía cung

Cập nhật lúc: 28/01/2019 02:00:00 PM

Tiếp đà tăng trưởng của năm 2017, kinh tế Việt Nam bước sang năm 2018 tiếp tục được cải thiện nhờ hàng loạt yếu tố hỗ trợ như giá hàng hoá thấp, lực đẩy từ các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và cầu bên ngoài cùng với những cải cách tích cực về thể chế, bên cạnh đó là sự nỗ lực và quyết tâm rất lớn từ phía chính phủ với các giải pháp thực thi hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng liên tục đạt mức cao: năm 2017 đạt 6,81%, năm 2018 ước đạt 7,08%. Đặc biệt năm 2018 được coi là năm thực sự “cất cánh” của cả giai đoạn 2016-2020. Kinh tế khởi sắc trên cả ba khu vực sản xuất. Mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội đạt 7,08% đã vượt mục tiêu kế hoạch đề ra, đạt mức cao nhất trong hơn 11 năm qua. Đây là tiền đề quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng và hướng tới đạt tới mục tiêu 6,5-7% cho cả giai đoạn 2016-2020.

Sự tăng trưởng ổn định ở cả 3 khu vực nông, lâm, thủy sản; công nghiệp xây dựng và dịch vụ đã tạo nên thế kiềng ba chân vững chắc cho tổng cung trong năm 2018. Khu vực công nghiệp và xây dựng với đòn bẩy là ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã tăng trưởng mạnh mẽ, góp phần giúp toàn nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Bên cạnh đó, với tỉ trọng chiếm cấu thành lớn trong cấu thành GDP, cùng sự duy trì mức tăng trưởng khả ổn định, khu vực dịch vụ liên tục đóng góp đạt mức cao nhất cho tăng trưởng chung và được coi là động lực thứ hai thúc đẩy và củng cố tăng trưởng toàn nền kinh tế. Và dĩ nhiên, không thể không kể tới “chân kiềng thứ ba” là khu vực nông, lâm, thủy sản đã có một năm trưởng để lại nhiều dấu ấn khi đạt mức cao nhất trong vòng 7 năm trở lại đây, 3,76%.

Tăng trưởng khu vực công nghiệp xây dựng năm 2018, ước đạt mức 8,85%, trong đó ngành công nghiệp tăng 8,79%, đóng góp 2,85 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành xây dựng năm 2018 duy trì được mức tăng trưởng khá với tốc độ 9,16%, đóng góp 0,65 điểm phần trăm. Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế với mức tăng cao 12,98%, tuy thấp hơn mức tăng của năm 2017 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng các năm 2012-2016, đóng góp 2,55 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Kết quả tăng trưởng cho thấy nền kinh tế đã thoát khỏi sự phụ thuộc vào khai thác khoáng sản và tài nguyên khi năm 2018 là năm thứ ba liên tiếp công nghiệp khai khoáng tăng trưởng âm (giảm 3,11%), làm giảm 0,23 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Công nghiệp chế biến chế tạo tăng trưởng cao nhưng giá trị gia tăng chủ yếu đến từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, giá trị gia tăng tạo ra trong ngành này chủ yếu tới từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài với đóng góp lớn nhất về xuất khẩu và giá trị sản xuất công nghiệp. Cụ thể là dấu ấn rõ nét của doanh nghiệp Samsung khi đóng góp vào mức tăng trưởng đột biến của quý I/2018 (GDP tăng 7,45%). Theo thống kê của Vụ Thống kê công nghiệp, với vai trò tiên phong của Samsung trong sản xuất điện thoại và các sản phẩm linh kiện, năm 2010, Samsung đóng góp khoảng 10% cho toàn ngành công nghiệp Việt Nam. Đến nay, sau 8 năm, con số này đã tăng lên gần 18%, trong đó riêng xuất nhập khẩu mặt hàng điện thoại di động và linh kiện đã chiếm tới 58,8%. Không chỉ Samsung, Fomosa cũng là một nhân tố đóng góp vào tăng trưởng cao trong quý I với mức tăng khoảng 26,7%. Quý I/2018, tăng trưởng kinh tế đạt 7,45%, cao nhất trong 10 năm qua. Tuy nhiên bước sang quý II, khi các lợi thế thúc đẩy tăng trưởng từ các tập đoàn nước ngoài này giảm sút, ngành công nghiệp chế biến chế tạo, từ chỗ tăng 13,56% trong quý I đã giảm xuống 13,02% sau 6 tháng, khiến tăng trưởng GDP chung trong quý II giảm xuống còn 6,73%. Rõ ràng, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, điều này chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với nền kinh tế.

Ngược lại với xu thế tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo, ngành công nghiệp khai khoáng có xu hướng sụt giảm. Năm 2017 giảm -7,1%, là mức giảm mạnh nhất do sản lượng khai thác dầu thô giảm -10,8% bất chấp giá dầu vẫn tăng nhẹ và khai thác than giảm -0,5%, đánh dấu năm đi xuống thứ 2 liên tiếp. Nếu không tính khai khoáng, tăng trưởng GDP sẽ đạt 7,9%, cho thấy rõ nét hơn về sự phục hồi kinh tế Việt Nam từ năm 2017. Bước sang năm 2018, ngành khai khoáng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng giảm, nhưng mức độ giảm sút đã chậm lại. Tính chung cả năm 2018, ngành này giảm 3,11% so với 2017. Nếu không tính đến khai khoáng, GDP toàn nền kinh tế ước đạt 7,92%.

Ngành dịch vụ có kết quả tăng trưởng khá, tăng 7,03%, tuy thấp hơn mức tăng 7,44% của năm 2017 nhưng cao hơn so với các năm 2012-2016, trở thành động lực thứ 2 thúc đẩy tăng trưởng chung. Trong năm 2017, tăng trưởng của hầu hết các ngành trong khu vực dịch vụ đều ở mức cao hơn năm 2016, trong đó lưu trú ăn uống, vận tải kho bãi và bán buôn bán lẻ, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm là những ngành nổi bật. Năm 2018, các ngành này tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tốt. Bán buôn và bán lẻ tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực dịch vụ, cũng là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,92 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,21%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,78%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,85%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2018 đã có sự phục hồi ấn tượng. Ước tính năm 2018, tăng trưởng khu vực này đạt 3,76% - cao nhất trong 7 năm qua. Trong đó, ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định xu hướng phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 2,89%, là mức tăng cao nhất của giai đoạn 2012-2018, đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành thủy sản đạt kết quả khá tốt với mức tăng 6,46%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 6,01% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm.

Nếu so sánh tăng trưởng thực và tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế cho thấy trong hai năm 2017-2018, tăng trưởng đang vượt mức tăng trưởng tiềm năng (ước tính tốc độ tăng trưởng tiềm năng năm 2017 và 2018 lần lượt là 6,45% và 6,58%). Về mặt lý thuyết, bất cứ chênh lệch nào giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng cũng có thể gây bất ổn cho nền kinh tế trong dài hạn. Trong ngắn hạn, nếu sản lượng thực tế lớn hơn sản lượng tiềm năng, nền kinh tế đang có dư cầu. Điều này phản ánh rằng sự tăng trưởng bứt phá của giai đoạn 2017-2018 vượt trên mức tăng trưởng sản lượng tiềm năng có thể chứa đựng rủi ro và áp lực lạm phát trong giai đoạn tới.

Mặc dù có sự tăng trưởng khá trong những năm gần đây nhưng so với nhiều nước trong khu vực quy mô nền kinh tế GDP đầu người của Việt Nam còn tương đối thấp. GDP theo giá hiện hành năm 2018 ước tính mới đạt khoảng đạt 245 tỷ USD, bình quân đầu người là khoảng 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017 (tương đương với nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp), thấp hơn nhiều lần so với các nước trong khu vực như Thailand, Malaysia, Philippines, Singapore (năm 2017, GDP bình quân đầu người các nước lần lượt là 6.593,8; 9.944,9; 2.989 và 57.714,3 USD/người). Hơn nữa, Việt Nam thuộc nhóm nước Châu Á có lĩnh vực công nghiệp đóng góp lớn nhất vào GDP nhưng đóng góp lớn nhất về việc làm lại thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Nếu tiếp tục xuất khẩu tài nguyên, sản phẩm dưới dạng thô hoặc sơ chế và coi nhân công giá rẻ là lợi thế thì khó có tăng trưởng GDP cao liên tục và vững chắc, nguy cơ mắc bẫy thu nhập trung bình sẽ ngày càng hiện rõ.

Nhìn vào chất lượng tăng trưởng, năm 2018, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 43,50%, bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD/lao động, tăng 346 USD so với năm 2017); năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017, cao hơn nhiều mức tăng 5,29% của năm 2016 và xấp xỉ mức tăng 6,02% của năm 2017 do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm năm 2018 tăng cao. Tuy nhiên có thể thấy tăng trưởng kinh tế vẫn còn dựa nhiều vào gia tăng cho đầu tư với tỷ trọng đầu tư trên GDP ở mức cao./.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Ban Dự báo Kinh tế vĩ mô
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202